CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA CƠ CHE TÍNH PHÍ BẢO HIẾM TIEN GUI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây đã có nhiều đề tài và đề án nghiên cứu về vấn đề Cơ chế tính phí bảo hiểm tiền gửi trong nước và trên thế giới. Các công trình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu quốc tế Công trình nghiên cứu “Recent reforms of Deposit Insurance System in the United states: reason, results, and Recommendation for the European Union” — “Những cải cách hiện hành của hệ thống BHTG Mỹ: Nguyên nhân, kết quả và Khuyến nghị cho Thị trường chung Châu Âu” - Tác giả: Konzad Szelag, Ngân hàng trung ương Ba Lan, tháng 5, năm 2009. Công trình này nghiên cứu nguyên nhân và kết quả của cuộc cải cách toàn điện hệ thống BHTG Mỹ qua hai lần khủng hoảng kinh tế Mỹ năm 2005 và 2008, qua đó đưa ra các khuyến nghị đối với hệ thồng BHTG Châu Âu.
Đề tài: “New Deposit Insurance System in East Asia: - “Hệ thống BHTG mới tại Đông A” — Tác giả: David K.Walker, Trung tâm nghiên cứu va dao tao, Ngân hàng Trung ương các nước Đông Nam Á, năm 2006. Đề tài nghiên cứu đặc điểm của các hệ thống BHTG đã được thành lập hoặc đang được xây dựng tại các nước Châu Á như Nhật Bản, Philipine, Việt Nam, Thái Lan. So sánh điểm tương đồng và khác biệt giữa các cơ chế BHTG, rút ra những thông lệ tốt mà BHTG một số nước đã thực hiện, đồng thời đưa ra các khuyến nghị dé xây dựng hệ thống BHTG hiệu quả. Năm 2014, trung tâm đào tạo của IME tại Singapore lần đầu tiên đưa nội dung BHTG vào chủ dé dao tạo về Ngân hang và 6n định tài chính cho các học viên trong khu vực.
Các công trình nghiên cứu trong nước BHTG là một lĩnh vực mới tại Việt Nam và đã có một số nghiên cứu về BHTG nhưng chủ yếu tập trung vào Luật BHTG; Cơ chế hoạt động của BHTG, hoạt động giám sát của BHTG. dưới dạng luận văn Thạc Sỹ. Ngoài ra cũng có rất nhiều đăng trên các báo, tạp chí đề cập đến vấn đề vai trò, nhiệm vụ, mô hình BHTG .Có thể kế đến các bài viết của các chuyên gia kinh tế, chuyên gia pháp ly đăng trên các tạp chí nghiên cứu của Ngân hàng và tô chức bảo hiểm. Một số đề tài nghiên cứu tiêu biéu về BHTG ở Việt Nam như: Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Lệ (2015) tại ĐHKT — ĐHQG HN với đề tài “Hoạt động BHTG Việt Nam”.
Luận văn nghiên cứu tổng quan về hoạt động BHTG của Việt Nam và các nước trên thế giới, đưa ra những kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và kiến nghị giải pháp nhăm nâng cao hoạt động BHTG Việt Nam. Tuy nhiên bài nghiên cứu tập trung nghiên cứu về hoạt động BHTG mà không đi sâu vào cơ chế tính phí BHTG theo mức độ rủi ro. Luận văn thạc sỹ của Lê Thị Vân Anh (2010) tại Học viện Tài chính với đề tài “giải pháp hoàn thiện cơ chế BHTG ở Việt Nam” đã nghiên cứu tông quan và kinh nghiệm quốc tế về BHTG, đánh giá các kết quả đạt được cũng như hạn chế từ phân tích thực trạng hoạt động của BHTG ở Việt Nam và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế BHTG ở Việt Nam. Tuy nhiên bài luận văn mới chỉ đi sâu vào nghiệp vụ BHTG nói chung mà chưa phân tích cụ thé cơ chế tính phí BHTG đặc biệt là cơ chế tính phí BHTG theo mức độ rủi ro.
Các hạn chế này sẽ được khắc phục trong dé tài “ Cơ chế tính phí BHTG theo mức độ rủi ro” Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Hoàn (2014) tại ĐHKT — ĐHQG HN với đề tài “Kiểm soát rủi ro trong triển khai chính sách của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Hà Nội” đã đưa ra cái nhìn khá sâu sắc về tổ chức BHTGVN nói chung và BHTG chi nhánh khu vực Hà Nội rói riêng, tìm hiểu về những rủi ro thực tế phát sinh trong quá trình triển khai chính sách BHTG. Tuy bài luận văn có nêu ra được một số kinh nghiệm quốc tế từ thu phí BHTG xong chưa nghiên cứu cụ thê cơ chế tính phí BHTG tại Việt Nam và đưa ra giải pháp hoàn thiện cơ chế tính phí BHTG tại Việt Nam. Nhận xét về tổng quan nghiên cứu 1. Những giá trị đạt được Các công trình trên đã chỉ tiết và hệ thống hóa được các khái niệm và định nghĩa về BHTG nói chung cũng hư cơ chế hoạt động của BHTG, cơ chế thu phí BHTG.
Các công trình cũng chỉ ra được các nghiệp vụ, hoạt động và cũng chỉ ra được thực tế những rủi ro phát sinh trong quá trình triển khai chính sách BHTG. Một số công trình nghiên cứu cũng đã nghiên cứu kinh nghiệm quốc té về hoạt động của BHTG. Từ đó các công trình trên cũng đã đưa ra các biện pháp cơ bản cùng những khuyến nghị nhăm hoàn thiện cơ chế BHTG ở Việt Nam 1. Những hạn chế còn tôn tại Da số các công trình nghiên cứu trên tập trung chủ yêu nghiên cứu về cơ chế, chính sách BHTG nói chung.
Chưa đề cập đến quỹ BHTG — nhân tố quan trọng trong việc xử lý khi hệ thong TC — NH gặp sự có, trong đó phí BHTG là nguồn cấu thành nên quỹ. Việc nâng cao năng lực hoạt động của BHTG Việt Nam, hoàn thiện cơ chế BHTG Việt Nam, vấn đề cấp bách cần nghiên cứu đó là hoàn thiện cơ chế tính phí BHTG. Hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu sâu về dé tài này. Kết luận về tổng quan nghiên cứu Từ những hạn chế đã nêu trên về tổng quan tình hình nhiên cứu.
Khoảng trong nghiên cứu ở đây đó chính là cơ chế tinh phí BHTG theo mức độ rủi ro — cần có một nghiên cứu chuyên sâu về dé tài này nhằm có cái nhìn tổng quát nhất về phi BHTG theo mức độ rủi ro và các điều kiện cần có để áp dụng cơ chế tính phí theo mức độ rủi ro. Các hạn chế trên đã được khắc phục trong đề tài “Cơ chế tính phí bảo hiểm theo mức độ rủi ro” của tác giả.2 Tổng quan về BHTG 1.1 Khái niệm về BHTG BHTG là thuật ngữ đã xuất hiện từ khá lâu nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm nào thông nhât vê nó. Hiện nay, pháp luật của các nước thường không đưa ra khái niệm về BHTG nói chung mà chỉ xác định mục tiêu, liệt kê các hoạt động của BHTG. Theo tài liệu Bao hiểm tién gửi và quản lý khủng hoảng do Qũy tiền tệ Quốc tế phát hành năm 1996 của tác giả Carl Johan Lindgren và Gilian Garcia thì BHTG được hiểu là “Một cơ chế có giới hạn nhưng chính thức cung cấp sự bảo đảm mang tính chất pháp lý cho cá khoản gốc (và thường cả lãi) của các khoản tiên gửi [6] Theo Luật BHTG Canada năm 2010 thì BHTG được hiểu là “bao hiểm cho những tồn thất một phan hoặc toàn bộ số tiễn gui” [7].
BHTG Việt Nam hình thành va hoạt động từ những năm 2000 thi đến năm 2012 Luật BHTG được ban hành. Theo quy định của Luật thì BHTG là sự bảo dam hoàn trả tiền gửi cho người được BHTG trong hạn mức trả tién bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTG lâm vào tinh trang mat khả năng chi trả tién gửi cho người gưi tiền hoặc bị pha san [16]. Xét về tinh chất, BHTG là loại hình bao hiểm bắt buộc va hoạt động không vì mục đích kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận, mà phục vụ cho chính sách kinh tế quốc gia, vì quyền lợi của người gửi tiền và nhằm tương hỗ giữa các thành viên tham gia BHTG. Trên thế giới, hầu hết các hệ thống BHTG đều do chính phủ thành lập hoặc là một bộ phận của NHTW, do đó tô chức BHTG là định chế an toàn, có thể tạo lập và duy trì được lòng tin của người gửi tiền ngay cả trong thời điểm khó khăn nhất.
Có BHTG, nghĩa là chính phủ bảo đảm an toàn các khoản tiền gửi, nhờ vậy người gửi tiền hoàn toàn yên tâm khi gửi tiền vào các tô chức nhận tiền gửi. Ngoài việc bảo vệ người gửi tiền, BHTG còn có mục đích là ngăn ngừa những vụ hoảng loạn của NH, đảm bảo an toàn, ôn định hoạt động hệ thống TC-NH, góp phần ôn định và phát triển kinh tế.2 Đối tượng tham gia BHTG Tổ chức tham gia BHTG: Là các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng có hoạt động huy động tiền gửi, như: ngân hàng, công ty tài chính, ngân hang hop tác, các tổ chức tài chính vi mô. Khi tham gia BHTG, các tổ chức này có trách nhiệm đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG và được quyền yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức đó trong trường hợp tô chức đó bi mat khả năng thanh toán và bị cơ quan có thâm quyền chấm dứt hoạt động. Mục tiêu của BHTG đó là thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ người gửi tiền, góp phần duy tri sự ồn định của các tô chức tín dụng, đảm bảo sự phát triển an toàn lành mạnh của hoạt động ngân hàng.3 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của BHTG trên thé giới Nhìn lại lịch sử phát triển kinh tế, khi các quốc gia chưa hình thành tổ chức BHTG thì họ cũng đã sử dụng công cu “bảo vệ ngầm”.
Hình thức “bảo vệ ngầm” là việc Chính phủ hay ngân hàng trung ương (NHTW) không có cam kết công khai sẽ đảm bảo hoàn trả tiền gửi cho người gửi tiền nếu xảy ra hiện tượng đóng cửa ngân hàng và ngân hàng đó không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền. Tuy nhiên, việc bảo vệ ngầm đó không thực sự mang lại lợi ích cho quốc gia cũng như không mang lại niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính ngân hàng. Nguồn gốc ra đời của BHTG xuất phát từ hoạt động “bảo vệ người gửi tiền”. Bao vệ người gửi tiền là chính sách đảm bảo tất cả hoặc một phần tiền gửi cùng với tiền lãi trên tài khoản tiền gửi sẽ được thanh toán cho người gửi tiền theo cơ chế hợp đồng hoặc cam kết công khai khi ngân hàng đô vỡ.
Tổ chức bảo vệ người gửi tiền công khai được thành lập đầu tiên ở Mỹ nhằm giải quyết các van đề phat sinh do việc rút tiền 6 ạt tại các ngân hàng vào cuối thé kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Việc thực hiện trách nhiệm BHTG đầu tiên được thực hiện ở New York vào năm 1829.