Chương 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH DỊCH VỤ MOBILE–MONEY 1.1 Khái quát về dịch vụ Mobile-money 1.1 Khái niệm dịch vụ Mobile-money Dịch vụ Mobile-money được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào hệ thống pháp luật của từng quốc gia6 và thông lệ quốc tế. Theo Hiệp hội hệ thống thông tin di động toàn cầu (Global System for Mobile Communications Association – GSMA), Mobile-money là dịch vụ mà ở đó người dùng có thể sử dụng thiết bị di động để tiếp cận với các dịch vụ tài chính7. Ngân hàng thế giới (World Bank – WB) thì định nghĩa Mobile-money là dịch vụ cho phép người dùng ghi nhận giá trị tiền tệ trên thiết bị di động hoặc trên tài khoản viễn thông dưới hình thức tiền điện tử và có thể được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như chuyển tiền cho người dùng khác, rút tiền mặt, hoặc thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ8. Tại Việt Nam, Quyết định số 316/QĐ-TTg không trực tiếp đưa ra khái niệm về dịch vụ Mobile-money, nhưng có thể được hiểu gián tiếp rằng dịch vụ Mobile- money là dịch vụ dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ9.
Bên cạnh đó, dự thảo về Nghị định quy định về thanh toán không dùng tiền mặt (năm 2019) mặc dù không đưa ra khái niệm dịch vụ Mobile-money nhưng đã có sự đề cập đến khái niệm “Tiền di động là tiền điện tử do tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán kinh doanh dịch vụ viễn thông phát hành và định danh khách hàng thông qua cơ sở dữ liệu thuê bao di động”. Khái niệm Mobile-money dễ nhầm lẫn với Mobile banking vì cả 02 (hai) hình thức hỗ trợ thanh toán này đều được thực hiện trên thiết bị di động. Tuy nhiên, về bản chất, đây là 02 (hai) loại dịch vụ khác nhau. Theo đó, Mobile banking là dịch vụ trực tuyến qua ứng dụng của ngân hàng trên điện thoại, cho phép người dùng thanh toán không dùng tiền mặt ở bất cứ đâu khi điện thoại có kết nối internet và bắt buộc 6 Chido Pamela Mafongoya (2021), Revolutionising Cross-Border Remittances; A Legal Framework for Mobile Money Interoperability in South Africa (tạm dịch: Cách mạng hóa kiều hối xuyên biên giới; Khung pháp lý cho khả năng tương tác của Mobile Money ở Nam Phi), Luận văn Thạc sĩ, Đại học Western Cape, tr.
7 GSMA (2010), Mobile Money Definitions (tạm dịch: Những định nghĩa về Mobile Money), Anh, tr. 8 WB (2008), Integrity in Mobile Phone Financial Services (tạm dịch: Tính toàn vẹn trong dịch vụ tài chính di động), Hoa Kỳ, tr. 9 Điều 1 Quyết định số 316/QĐ-TTg. 11 phải có tài khoản ngân hàng10.
Trong khi đó, dịch vụ Mobile-money có điểm khác biệt tiện lợi hơn so với dịch vụ Mobile banking là không bắt buộc người dùng phải liên kết tài khoản ngân hàng hay phải có điện thoại thông minh khi sử dụng dịch vụ này. Dịch vụ Mobile-money được hình thành với ý nghĩa là có thêm một phương tiện mới hỗ trợ cho nhu cầu nạp, rút tiền, thanh toán, chuyển tiền của người dân. Tóm lại, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm dịch vụ Mobile- money nhưng nhìn chung có thể hiểu: Dịch vụ Mobile-money là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản tiền di động định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tạo lập trên SIM điện thoại di động, cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được khách hàng nạp tiền mặt hoặc chuyển từ tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản ví điện tử của khách hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ Mobile- money theo tỷ lệ 1:1. Thông qua sử dụng dịch vụ Mobile-money, khách hàng có thể tiếp cận các dịch vụ tài chính như (i) nạp/rút tiền mặt vào hoặc từ tài khoản Mobile- money, (ii) thanh toán cho hàng hóa, dịch vụ, và (ii) chuyển tiền.2 Đặc điểm dịch vụ Mobile-money Thứ nhất, về chủ thể tham gia: Một quan hệ dịch vụ nhất định không thể thiếu sự hiện diện của hai chủ thể chính, đó là chủ thể cung ứng dịch vụ và chủ thể sử dụng dịch vụ.
Xuất phát từ việc nguồn gốc dịch vụ Mobile-money được tạo lập trên SIM điện thoại di động, bên cung ứng dịch vụ Mobile-money trước hết có thể là các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông. Chủ thể cung ứng dịch vụ là nhà cung cấp dịch vụ viễn thông là mô hình được các nước triển khai dịch vụ Mobile-money thành công trên thế giới áp dụng (như Ghana, Kenya). Ngoài ra, một số quốc gia khác trên thế giới lại lựa chọn áp dụng mô hình bên cung ứng dịch vụ là các chủ thể khác và các chủ thể này sẽ mua hoặc thuê hạ tầng kỹ thuật của các nhà mạng di động để cung ứng dịch vụ cho khách hàng11. Các chủ thể khác cung ứng dịch vụ Mobile-money có thể kể đến như ngân hàng thương mại (mô hình được triển khai tại Bangladesh, Nigeria, Ai Cập), tổ chức khác cung ứng dịch vụ thanh toán (mô hình được triển khai tại Ấn Độ, Tunisia), ngân hàng trung 10 Hoàng Công Gia Khánh, Trần Hùng Sơn, Huỳnh Thị Ngọc Lý (2019), Mô hình nào cho Mobile Money tại Việt Nam, Việt Nam, tr.
11 Đặng Thị Việt Đức (2019), “Tiền di động và triển vọng phát triển đối với Việt Nam”, Tài chính doanh nghiệp, số 09 (194), tr. Nhu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán là nhu cầu chung không chỉ của cá nhân mà còn đối với các tổ chức. Về mặt lý thuyết, bên sử dụng dịch vụ Mobile-money có thể bao gồm tổ chức, cá nhân. Về mặt thực tiễn quy định tại một số nước như Cộng hòa Liberia và Malawi, chủ thể sử dụng dịch vụ Mobile-money bao gồm cả tổ chức và cá nhân.
Tuy nhiên, việc các cơ quan quản lý đặt ra những giới hạn về hạn mức, phạm vi giao dịch nhất định đối với loại hình dịch vụ này đã phần nào hạn chế đối tượng có nhu cầu sử dụng dịch vụ Mobile-money là tổ chức. Thay vào đó, dịch vụ Mobile-money phù hợp với đối tượng khách hàng là cá nhân, đặc biệt là các cá nhân chưa có điều kiện để tiếp cận đến dịch vụ ngân hàng, dịch vụ internet như người dân ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo vì dịch vụ này không yêu cầu bắt buộc phải có tài khoản ngân hàng hay điện thoại thông minh. Thứ hai, về phương tiện giao dịch: Dịch vụ Mobile-money cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch tài chính bằng phương tiện thiết bị di động thông thường, không nhất thiết phải sử dụng điện thoại thông minh. Trường hợp sử dụng thiết bị di động thông thường, bên cung ứng dịch vụ Mobile-money sẽ khởi tạo một hệ thống tiếp nhận lệnh đăng ký và sử dụng dịch vụ của khách hàng dưới dạng SMS hoặc dữ liệu dịch vụ bổ sung không có cấu trúc (USSD)13.
Trường hợp sử dụng điện thoại thông minh, bên cung ứng dịch vụ sẽ tạo lập một nền tảng ứng dụng qua mạng internet làm cơ sở cho phép khách hàng đăng ký tài khoản và thực hiện giao dịch. Để sử dụng dịch vụ Mobile-money, khách hàng phải đăng ký tạo tài khoản Mobile-money, là nơi lưu trữ tiền di động trên thiết bị di động. Tài khoản Mobile-money thường tách bạch với tài khoản của SIM thuê bao di động (là tài khoản sử dụng cho việc cung cấp và sử dụng dịch vụ thông tin di động, dịch vụ viễn thông) vì tài khoản của SIM thuê bao di động thực tế còn bao gồm tiền khuyến mãi. Trong trường hợp không tách bạch hai loại tài khoản này sẽ ảnh hưởng đến nguyên tắc quy đổi của tiền điện tử theo tỷ lệ 1:1 với tiền pháp định.
Theo đó, tiền điện tử chỉ là hình thức điện tử của tiền pháp định, được sử dụng 12 GSMA (2021), Mobile Money Policy and Regulatory Handbook (tạm dịch: Sổ tay pháp lý và chính sách về Mobile Money), Anh, tr. 13 USSD (viết tắt của Unstructured Supplementary Service Data): Dữ liệu dịch vụ bổ sung không có cấu trúc hay còn được gọi là “mã nhanh” hoặc “mã tính năng”. USSD là một giao thức giao tiếp có sử dụng các mã được tạo ra bởi những ký tự có sẵn trên điện thoại. 13 để chuyển giao giá trị của đồng tiền pháp định qua phương thức điện tử và có tỷ lệ quy đổi 1:1 với tiền pháp định14.
Bên cạnh đó, chủ thể cung ứng dịch vụ sẽ không được trả lãi đối với tiền trong tài khoản Mobile-money nhằm đảm bảo không làm phát sinh lượng tiền tệ mới trong lưu thông. Thứ ba, về mục đích giao dịch: Tương tự các loại hình dịch vụ hỗ trợ thanh toán khác, mục đích mà dịch vụ Mobile-money hướng đến là xây dựng môi trường để các giao dịch về dòng tiền được diễn ra. Các nhà tạo lập dịch vụ Mobile-money mong muốn xây dựng Mobile-money như một dịch vụ hỗ trợ nạp, rút, thanh toán, chuyển tiền cho người dân, đặc biệt thuận tiện sử dụng cho cả những khách hàng là người dân ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo chưa có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng, internet. Do vậy, dịch vụ Mobile-money được thiết kế để đáp ứng các nhu cầu giao dịch cơ bản về dòng tiền.
Tùy thuộc vào quy định của từng quốc gia mà dịch vụ Mobile-money được sử dụng với những mục đích khác nhau. Tại Kenya, dịch vụ Mobile-money được sử dụng để thanh toán các khoản vay, chuyển tiền; tại Philippines là nạp hoặc chuyển tiền tại các đại lý; tại Indonesia là nạp tiền, rút tiền; hay tại Việt Nam là các giao dịch nạp tiền, rút tiền, chuyển tiền và thanh toán hóa đơn15. Thứ tư, về phạm vi giao dịch: Phạm vi giao dịch của dịch vụ trung gian thanh toán được hiểu là liệu rằng dịch vụ đó được thanh toán ở phạm vi trong nước hay quốc tế. Thanh toán điện tử nói chung và thanh toán bằng dịch vụ Mobile-money nói riêng là một hoạt động không có biên giới, nó trải rộng và phát triển trên toàn cầu nhằm đáp ứng nhu cầu luân chuyển tiền tệ.
Dịch vụ Mobile-money sử dụng cơ sở hạ tầng truyền thông không dây và điện thoại di động, do vậy, chi phí cung ứng, vận hành dịch vụ thấp, tạo điều kiện phục vụ thanh toán quốc tế16. Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại đưa ra các quy định khác nhau về phạm vi giao dịch của dịch vụ Mobile-money nhằm phù hợp với mục tiêu 14 Phan Chí Hiếu, Nguyễn Thanh Tú (2019), Một số vấn đề pháp lý về tài sản mã hóa tiền mã hóa, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr. 15 Hạ Thị Thiều Dao, Phùng Thị Hoàng An, “Tiền di động – Một năm nhìn lại”, https://tapchinganhang.vn/tien-di-dong-mot-nam-nhin-lai.htm, truy cập ngày 08/4/2023.