Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: "Diễn ngôn về người phụ nữ trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX (Khảo sát qua một số tác giả tiêu biểu)".

  • Tác giả: Phan Thị Tâm Thanh
  • Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Văn Toàn
  • Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
  • Chuyên ngành: Văn học Việt Nam (Mã số: 9.21)
  • Năm bảo vệ: 2022

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong một thời gian dài, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa cấu trúc, nghiên cứu văn học tập trung chủ yếu vào các quan hệ nội tại của văn bản và xem nhẹ mối quan hệ giữa văn học với ý thức hệ xã hội. Việc nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam giai đoạn 1900–1945 trước đây phần lớn dừng lại ở góc độ thi pháp học, xã hội học phản ánh hoặc phân tích nhân vật dưới góc nhìn đạo đức, thẩm mỹ đơn thuần. Luận án đặt ra yêu cầu vận dụng lý thuyết diễn ngôn nhằm chuyển dịch trọng tâm từ việc mô tả người phụ nữ được phản ánh như thế nào sang việc giải mã cơ chế văn hóa, lịch sử và các quan hệ quyền lực/tri thức đã chi phối sự kiến tạo hình tượng người phụ nữ cũng như bản sắc nữ tính mới trong giai đoạn giao thời Đông – Tây.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Làm sáng tỏ cơ chế tạo lập diễn ngôn về người phụ nữ và sự xuất hiện mô hình nữ tính mới trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
  2. Chỉ ra tính đặc thù, tính đa dạng của hình tượng người phụ nữ trong mối quan hệ với diễn ngôn dân tộc, diễn ngôn cá nhân và diễn ngôn về mặt trái của hiện đại hóa/Âu hóa.
  3. Xác định những đóng góp và hạn chế của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam giai đoạn 1900–1945 ở các phương diện diễn ngôn nêu trên.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Giới thuyết khái niệm diễn ngôn, đặc trưng của diễn ngôn văn học và hệ thống thao tác phân tích diễn ngôn văn học; xác lập khung công cụ lý thuyết then chốt cho luận án.
  2. Chứng minh cơ chế tạo lập diễn ngôn về người phụ nữ và diễn giải bản sắc nữ tính mới qua việc phân tích các tương quan quyền lực/tri thức và sự giao cắt của các tương quan này trong đời sống tư tưởng, văn hóa nửa đầu thế kỷ XX.
  3. Phân tích sự vận động tư tưởng của từng tác giả tiêu biểu và khuynh hướng tư tưởng thời đại nhằm làm rõ tính đặc thù của hình tượng người phụ nữ trong văn xuôi nghệ thuật giai đoạn khảo sát.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế tạo lập diễn ngôn về người phụ nữ và bản sắc nữ tính mới trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX qua sáng tác của một số tác giả tiêu biểu.
  • Phạm vi tư liệu và tác giả: Khảo sát các sáng tác văn xuôi nghệ thuật tiêu biểu giai đoạn 1900–1945 gồm: truyện ký và tiểu thuyết của Phan Bội Châu; truyện và ký sự của Tản Đà; tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách; tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng; truyện ngắn và tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng và Nguyên Hồng.
  • Phạm vi không gian - lịch sử: Tập trung vào các tác giả văn xuôi ở Bắc Bộ và Trung Bộ có tác phẩm định hình các bước chuyển của tư tưởng thời đại. Luận án tạm thời không đưa vào khảo sát chính các tác giả ở miền Nam và một số tác giả nữ miền Trung (như Hồ Biểu Chánh, Phan Thị Bạch Vân, Đạm Phương nữ sử, Huỳnh Thị Bảo Hòa) mà chỉ sử dụng như ngữ liệu liên hệ, so sánh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án phân loại lịch sử nghiên cứu vấn đề người phụ nữ trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX thành hai giai đoạn chính:

1. Giai đoạn trước năm 1975

  • Giới phê bình trước 1945: Trương Chính (Dưới mắt tôi, 1939), Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu, 1941), Vũ Ngọc Phan (Nhà văn Việt Nam hiện đại, 1942), cùng các bài viết của Trúc Hà, Thanh Quế, Thiếu Sơn trên báo chí. Các tác giả tập trung phân tích sự xung đột giữa cá nhân và gia đình phong kiến qua các nhân vật nữ của Tự Lực văn đoàn (như Mai trong Nửa chừng xuân, Loan trong Đoạn tuyệt).
  • Giai đoạn 1954–1975:
    • Tại miền Nam: Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, 1965), Thanh Lãng (Bảng lược đồ văn học Việt Nam, 1967), Thế Phong (Nhà văn tiền chiến 1930–1945, 1974), Doãn Quốc Sỹ đi sâu so sánh học thức và mức độ phản kháng của nhân vật Mai và Loan.
    • Tại miền Bắc: Nhóm Lê Quý Đôn (Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, 1957), Bạch Năng Thi và Phan Cự Đệ (Văn học Việt Nam 1930–1945, 1961), Hoàng Dung (Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam 1930–1945, 1978). Các công trình đánh giá nhân vật nữ dưới góc độ đấu tranh chống lễ giáo phong kiến, đồng thời ghi nhận những cuộc tranh luận về tính chất hiện thực hay suy đồi trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng (vấn đề "dâm hay không dâm", phân tích nhân vật Mịch trong Giông tố qua ý kiến của Trương Chính, Nguyễn Hoành Khung).

2. Giai đoạn sau năm 1975 đến nay

  • Công cuộc đổi mới nghiên cứu văn học: Nguyễn Đăng Mạnh (Những bài giảng về tác gia Văn học Việt Nam hiện đại, 2005) phân tích hình tượng người mẹ trẻ nghèo khổ, giàu đức hy sinh và bản năng yêu thương trong tác phẩm của Nguyên Hồng; Phan Cự Đệ (Văn học Việt Nam lãng mạn 1930–1945, 1997) và Vu Gia (Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hoá văn học, 1995) nhìn nhận lại nỗ lực giải phóng cá nhân của Tự Lực văn đoàn; Trần Hữu Tá (Nhà văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta, 1999) lý giải các nhân vật nữ tha hóa dưới góc độ tâm lý học và phân tâm học Freud.
  • Nghiên cứu của học giả quốc tế: David Marr (Vietnamese Tradition on Trial 1920–1945, 1984), Shawn McHale (Printing and power: Vietnamese debates over women’s place in society, 1918–1934), W. Wilcox (Women, westernization and the Origins of Modern Vietnamese Theatre, 2006) khảo sát sự bùng nổ của vấn đề phụ nữ trên báo chí và văn học gắn liền với tiến trình hiện đại hóa và biến động dân tộc.
  • Các nghiên cứu chuyên khảo: Trịnh Thu Tiết (Phan Bội Châu về tác gia và tác phẩm, 2001) khẳng định tư tưởng tiến bộ của Phan Bội Châu về nữ quyền cứu nước; Ngô Văn Thư (Bàn về tiểu thuyết Khái Hưng, 2006); Trần Thị Việt Trung (Hình tượng nhân vật phụ nữ trong văn xuôi Việt Nam hiện đại, 2008); Đỗ Hồng Đức (Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng, 2010).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Phần lớn các công trình đi trước tiếp cận nhân vật nữ như sự phản ánh hiện thực đời sống hoặc tập trung phân tích thi pháp nhân vật của từng tác giả riêng lẻ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: nghiên cứu hình tượng người phụ nữ từ lý thuyết diễn ngôn, xem người phụ nữ là một kiến tạo văn hóa - xã hội được sản sinh từ các tương quan quyền lực/tri thức, từ đó phân tích các quy tắc tư tưởng chi phối toàn bộ tiến trình sáng tác văn xuôi nghệ thuật giai đoạn 1900–1945.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Lý thuyết diễn ngôn của Michel Foucault: Vận dụng các khái niệm trung tâm gồm: Diễn ngôn (discourse), Tương quan quyền lực/tri thức (power/knowledge), Trường tri thức/Khung tri thức (episteme), Hệ thống loại trừ (system of exclusion). Diễn ngôn được xác định là thực tiễn ngôn ngữ mang tính quy ước xã hội, không trung tính mà luôn là công cụ và sản phẩm của các quan hệ quyền lực nhằm xác lập chân lý.
  • Lý thuyết phát ngôn và tính đối thoại của Mikhail Bakhtin: Xem diễn ngôn là ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp sống động, mang tính ý thức hệ và là không gian đối thoại của các tư tưởng xã hội.
  • Các khái niệm bổ trợ: Khái niệm Vô thức xã hội của Erich Fromm; luận điểm về kiến tạo hình ảnh thuộc địa trong Đông phương luận (Orientalism) của Edward Said; các tư tưởng về nữ quyền của Virginia Woolf (Căn phòng riêng) và Simone de Beauvoir (Giới tính thứ hai).

Quan niệm diễn ngôn của luận án

  1. Diễn ngôn là một cấu trúc liên văn bản, liên chủ thể, bị kiểm soát bởi các cơ chế quyền lực bên trong và bên ngoài.
  2. Diễn ngôn là sản phẩm của môi trường sinh thái văn hóa và biến đổi khi môi trường văn hóa thay đổi.
  3. Diễn ngôn là sự kiến tạo thế giới theo một quan niệm, tư tưởng hệ nhất định.
  4. Diễn ngôn là cấu trúc biểu nghĩa khái quát, vận hành dựa trên các cặp nhị phân đối lập (nam tính/nữ tính, truyền thống/hiện đại, tinh thần/thể xác, Tôi/Ta, giàu/nghèo).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Định hình đặc trưng của mô hình nữ tính mới thông qua hệ thống diễn ngôn trên cả trục đồng đại và lịch đại.
  • Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Phân tích đặc điểm hình tượng nhân vật nữ, ngôn ngữ, giọng điệu và kết cấu tác phẩm.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp văn học với lịch sử, xã hội học, văn hóa học để cắt nghĩa các quy tắc tư tưởng xã hội chi phối sáng tác.
  • Phương pháp so sánh – đối chiếu: So sánh các tác giả cùng thời kỳ hoặc khác khuynh hướng để nhận diện sự biến đổi của diễn ngôn.
  • Các thao tác bổ trợ: Phân tích tương quan quyền lực/tri thức; phân tích trật tự diễn ngôn; phân tích trường tri thức thời đại; phân tích nội hàm tư tưởng và hệ thống phương thức biểu đạt; thao tác thống kê, phân loại dữ liệu văn bản.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Hệ thống văn bản văn xuôi nghệ thuật của Phan Bội Châu, Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách, Nhất Linh, Khái Hưng, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng.
  • Các ấn phẩm báo chí đầu thế kỷ XX: Đông Dương tạp chí, Nam phong, Nữ giới chung, Phụ nữ tân văn.
  • Các văn bản tân thư, tân văn chữ Hán du nhập vào Việt Nam, các văn bản quy chuẩn Nho giáo (Gia huấn ca, Nữ giới, Nữ huấn), cùng các tư liệu cải cách giáo dục thời kỳ Pháp thuộc.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

  • Trình bày hệ thống giới thuyết về lý thuyết diễn ngôn qua ba khuynh hướng: ngôn ngữ học/ngữ dụng học, thi pháp học đối thoại của M. Bakhtin và xã hội học tri thức của M. Foucault.
  • Luận giải bốn đặc điểm cơ bản của diễn ngôn văn học: (1) là hình thái nghệ thuật của tư tưởng; (2) là sự kiến tạo những thế giới quan mới; (3) là hình thái phủ định trạng thái vô thức xã hội để hướng tới ý thức tự giác; (4) luôn tự phủ định mình để tạo ra cái mới.
  • Xác lập năm thao tác phân tích diễn ngôn áp dụng trong luận án: phân tích tương quan quyền lực/tri thức; phân tích trật tự diễn ngôn và các yếu tố bị loại trừ; phân tích trường tri thức thời đại (episteme); phân tích nội hàm tư tưởng của các yếu tố cấu trúc; phân tích hệ thống phương thức biểu đạt nghệ thuật.
  • Tổng thuật chi tiết lịch sử nghiên cứu vấn đề người phụ nữ trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX qua các mốc thời gian trước và sau năm 1975.

Chương 2: Quyền lực, tri thức phương Tây và sự xuất hiện diễn ngôn mới về người phụ nữ

  • Phân tích sự chuyển dịch của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX dưới tác động của văn minh phương Tây thông qua con đường xâm lược thực dân và nguồn tân thư, tân văn (từ Nhật Bản và Trung Quốc qua các tác giả như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Takayama Rinjiro).
  • Tiếp nhận các học thuyết phương Tây về tự do, dân chủ, khế ước xã hội, thuyết tiến hóa (Descartes, Rousseau, Montesquieu, Darwin) của các sĩ phu duy tân (Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng), dẫn đến sự hình thành các khái niệm "dân trí", "dân quyền", "dân chủ".
  • Đánh giá ảnh hưởng từ phong trào nữ quyền thế giới và sự hình thành diễn ngôn nữ quyền bản địa trên báo chí: diễn đàn phụ nữ trên Đông Dương tạp chí (1913), sự ra đời của báo Nữ giới chung (1918) do Sương Nguyệt Anh làm chủ bút, báo Phụ nữ tân văn, cùng vai trò khởi xướng đấu tranh cho quyền giáo dục và việc làm của phụ nữ từ các tác giả như Phan Khôi, Nguyễn Thị Kiêm (Manh Manh nữ sĩ), Phan Thị Bạch Vân (Nữ lưu thư quán Gò Công).
  • Khảo sát sự thay đổi môi trường giáo dục: phê phán sự kìm kẹp của đạo đức Nho giáo đối với nữ giới thông qua Gia huấn ca và các khuôn mẫu "tam tòng, tứ đức"; quá trình thực dân Pháp cải cách giáo dục (bãi bỏ thi cử Hán học năm 1915 ở Bắc Kỳ và 1918 ở Trung Kỳ), thiết lập hệ thống trường Pháp – Việt và các trường nữ học (trường nữ tư thục Sài Gòn 1875, trường Brieux/Hàng Cót 1908, trường Nữ học Đồng Khánh 1917).
Năm học Cấp học / Kiểu trường Số trường Số học sinh
1940 – 1941 Cao đẳng 19 5.000 học sinh (tính cả trường tư)
1943 – 1944 Hệ thống giáo dục Pháp – Việt Tăng trưởng theo mạng lưới trường công và tư Mở rộng quy mô nữ sinh trên toàn quốc

(Số liệu tổng hợp của Trịnh Văn Thảo do Phan Ngọc trích dẫn trong văn bản luận án)

Chương 3: Người phụ nữ và diễn ngôn về dân tộc trong sáng tác của Phan Bội Châu và Nhất Linh, Khái Hưng

  • Phan Bội Châu và diễn ngôn dân tộc: Phân tích nhận thức mới về phụ nữ trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX. Phan Bội Châu thực hiện chiến lược "anh hùng hóa nữ tính", kiến tạo mẫu hình người nữ anh hùng gánh vác sứ mệnh cứu quốc, giải phóng dân tộc trong các tác phẩm như Trùng Quang tâm sử (các nhân vật cô Chí, cô Triệu, cô Liên), Tái sinh sinh (Bạch Liên nữ sỹ, Âu Vân phu nhân), và tài liệu giáo dục Nữ quốc dân tu tri.
  • Nhất Linh, Khái Hưng và diễn ngôn dân tộc: Phân tích nỗ lực hiện đại hóa đất nước thông qua cải cách xã hội của Tự Lực văn đoàn. Luận án chỉ ra cơ chế "nam tính hóa nữ tính" trong sáng tác của Nhất Linh và Khái Hưng, biến người phụ nữ thành chủ thể hành động mang phẩm chất duy lý, tự lập, tham gia vào công cuộc đổi mới văn hóa và xã hội của quốc gia.

Chương 4: Người phụ nữ và diễn ngôn về cá nhân trong sáng tác của nhà nho tài tử và trí thức Tây học

  • Tản Đà và văn chương nhà nho tài tử: Khảo sát sự giao cắt giữa mẫu hình nhân cách nhà nho tài tử truyền thống và ý thức cá nhân tư sản; phân tích quan niệm tình yêu ngoài hôn nhân và sự xuất hiện của hình tượng "người tri kỷ" trong văn xuôi Tản Đà.
  • Hoàng Ngọc Phách với tiểu thuyết Tố Tâm: Chỉ ra sự xung đột giữa chủ đích sáng tác mang tính răn đe đạo đức truyền thống của tác giả với sự tiếp nhận thực tế của độc giả thời đại — những người đọc Tố Tâm như một bản tuyên ngôn giải phóng cảm xúc cá nhân và tình yêu tự do.
  • Nhất Linh, Khái Hưng và diễn ngôn cá nhân tư sản: Làm rõ quá trình hình thành lối sống đô thị; sự giải thể cặp nhị phân thân/tâm để khẳng định quyền sống, quyền hưởng thụ hạnh phúc thể xác và tinh thần của người phụ nữ qua các nhân vật: Mai (Nửa chừng xuân), Loan (Đoạn tuyệt), Nhung (Lạnh lùng), Tuyết (Đời mưa gió).

Chương 5: Người phụ nữ và diễn ngôn về mặt trái của hiện đại hoá/Âu hoá trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng và Nguyên Hồng

  • Phân tích sự phản ánh mặt trái của quá trình Âu hóa dưới nhãn quan phê phán của cả trí thức Nho giáo lẫn trí thức Tây học.
  • Khảo sát mô hình nữ tính suy đồi trong tầng lớp thượng lưu thành thị qua ngòi bút trào phúng, hiện thực của Vũ Trọng Phụng (nhận diện sự tha hóa đạo đức, thói giả dối đội lốt phong trào văn minh).
  • Khảo sát sự tha hóa và số phận bi kịch của người phụ nữ dưới đáy xã hội trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng (Giông tố qua nhân vật Mịch) và Nguyên Hồng (những người phụ nữ, bà mẹ nghèo khổ bị dồn đẩy vào con đường cùng quẫn nhưng vẫn bảo tồn phẩm chất thiện lương và tình mẫu tử).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Là một trong những công trình chuyên biệt vận dụng hệ thống lý thuyết diễn ngôn của Michel Foucault và M. Bakhtin vào nghiên cứu văn xuôi nghệ thuật Việt Nam giai đoạn 1900–1945.
  • Cung cấp khung thao tác phân tích văn học liên ngành, kết hợp thi pháp học với xã hội học tri thức và phân tích quyền lực văn hóa, mở ra cách tiếp cận mới đối với lịch sử tư tưởng văn học.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Làm sáng tỏ cơ chế kiến tạo hình tượng người phụ nữ và sự biến đổi bản sắc nữ tính qua ba trục diễn ngôn cơ bản: diễn ngôn dân tộc, diễn ngôn cá nhân và diễn ngôn về mặt trái của hiện đại hóa/Âu hóa.
  • Định vị cụ thể đặc trưng mô hình nữ tính ở từng nhóm tác giả tiêu biểu: "anh hùng hóa nữ tính" ở Phan Bội Châu; "nam tính hóa nữ tính" và giải phóng cá nhân ở Tự Lực văn đoàn (Nhất Linh, Khái Hưng); sự xung đột ý thức hệ ở Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách; mô hình suy đồi và tha hóa ở Vũ Trọng Phụng và Nguyên Hồng.
  • Bổ sung nguồn tư liệu và hệ thống luận điểm khoa học cho việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử văn học Việt Nam hiện đại và nghiên cứu giới.

Kiến nghị và đề xuất

  • Đề xuất mở rộng việc ứng dụng lý thuyết diễn ngôn sang các thể loại văn học khác cùng thời kỳ (thơ ca, phóng sự, kịch bản sân khấu) và các giai đoạn văn học tiếp theo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Luận án tập trung khảo sát chủ yếu các tác giả tiêu biểu đại diện cho dòng văn xuôi tại khu vực Bắc Bộ và Trung Bộ.
  • Chưa thể bao quát toàn diện các tác giả văn xuôi Nam Bộ cùng thời kỳ (như Hồ Biểu Chánh, Phan Thị Bạch Vân) và một số tác giả nữ khu vực miền Trung (Đạm Phương nữ sử, Huỳnh Thị Bảo Hòa).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng khảo sát diễn ngôn về phụ nữ trong toàn bộ mạng lưới văn xuôi Nam Bộ giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX.
  • Nghiên cứu so sánh diễn ngôn nữ quyền giữa các loại hình văn bản: văn xuôi nghệ thuật, báo chí, văn học dịch và các văn bản quy phạm pháp luật thời kỳ thuộc địa.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Văn học: Cung cấp phương pháp luận phân tích diễn ngôn văn học; tài liệu tham khảo chi tiết cho học phần Văn học Việt Nam giai đoạn 1900–1945 và Lý luận văn học chuyên sâu.
  • Đối với các nhà nghiên cứu Xã hội học, Văn hóa học và Giới (Gender Studies): Cung cấp dữ liệu lịch sử về quá trình biến đổi địa vị phụ nữ, sự tiếp nhận phong trào nữ quyền phương Tây và các thiết chế giáo dục tại Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án hiểu và vận dụng khái niệm "diễn ngôn" theo những cấp độ nào của Michel Foucault?

Luận án tiếp thu định nghĩa diễn ngôn của M. Foucault qua ba cấp độ được phân tích trong công trình:

  1. Cấp độ tổng quát: Diễn ngôn bao gồm tất cả các nhận định, phát ngôn hoặc văn bản mang nghĩa và có hiệu lực tác động trong thế giới thực.
  2. Cấp độ nhóm: Diễn ngôn là một nhóm các nhận định được cá thể hóa, tổ chức theo quy ước, mạch lạc và hiệu lực chung (ví dụ: diễn ngôn nữ quyền, diễn ngôn dân tộc, diễn ngôn thực dân).
  3. Cấp độ quy tắc: Diễn ngôn là hoạt động được kiểm soát và điều chỉnh bởi các nguyên tắc, cơ chế kiểm soát bên trong và hệ thống loại trừ bên ngoài.

2. Sự khác biệt căn bản giữa mô hình "anh hùng hóa nữ tính" của Phan Bội Châu và "nam tính hóa nữ tính" của Nhất Linh, Khái Hưng là gì?

  • Phan Bội Châu: "Anh hùng hóa nữ tính" đặt người phụ nữ vào trung tâm của phong trào cứu quốc, gán cho họ trách nhiệm dân tộc và phẩm chất xả thân vì độc lập (cô Chí, cô Triệu trong Trùng Quang tâm sử), biến nữ tính thành biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước.
  • Nhất Linh và Khái Hưng: "Nam tính hóa nữ tính" trang bị cho người phụ nữ năng lực tư duy duy lý, học vấn Tây học và tinh thần tự lập để họ thoát khỏi sự phụ thuộc gia đình truyền thống, trở thành chủ thể cải cách xã hội và kiến thiết văn hóa mới.

3. Xung đột diễn ngôn trong tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách được luận án chỉ ra như thế nào?

Luận án phân tích sự đứt gãy giữa hai chiều kích:

  • Chủ đích sáng tác của tác giả: Hoàng Ngọc Phách vẫn giữ ý định răn dạy đạo đức luân lý truyền thống, cảnh báo giới trẻ về sự nguy hại của việc thả trôi cảm xúc.
  • Sự tiếp nhận của độc giả: Độc giả thời đại lại tiếp nhận tác phẩm như một diễn ngôn giải phóng cá nhân, đồng cảm sâu sắc với quyền được tự do yêu đương và nỗi đau khổ của người phụ nữ khi bị ràng buộc bởi lễ giáo gia đình.

4. Vì sao luận án không đưa sáng tác của các tác giả Nam Bộ như Hồ Biểu Chánh hay Phan Thị Bạch Vân vào hệ thống khảo sát chính?

Văn bản luận án nêu rõ: do giới hạn dung lượng của một đề tài tiến sĩ và nhằm tập trung phân tích sâu cơ chế kiến tạo của các khuynh hướng tiêu biểu chi phối cấu trúc tư tưởng thời đại, luận án tạm thời không khảo sát trực tiếp toàn bộ tác phẩm của các tác giả miền Trung và miền Nam, mà chỉ sử dụng các trường hợp này để liên hệ, so sánh mở rộng.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Phan Thị Tâm Thanh đã hoàn thành việc khảo sát có hệ thống vấn đề người phụ nữ trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam giai đoạn 1900–1945 dưới góc độ lý thuyết diễn ngôn. Bằng việc phân tích các tác phẩm tiêu biểu của Phan Bội Châu, Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách, Tự Lực văn đoàn, Vũ Trọng Phụng và Nguyên Hồng, luận án làm rõ cơ chế tương quan quyền lực/tri thức đã chi phối việc kiến tạo các mô hình nữ tính mới. Kết quả nghiên cứu khẳng định sự vận động của hình tượng người phụ nữ gắn bó chặt chẽ với tiến trình hiện đại hóa văn học và các biến chuyển tư tưởng - xã hội của Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.