Luận văn: Diễn ngôn về quyền lực, luân lý và tình yêu trong tiểu thuyết Trần Thùy Mai

Luận văn khám phá diễn ngôn quyền lực, luân lý và tình yêu trong tiểu thuyết lịch sử Trần Thùy Mai, làm sáng tỏ các phương thức biểu hiện nghệ thuật.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2025

130
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và lý thuyết diễn ngôn trong tiểu thuyết lịch sử

Diễn ngôn là một khái niệm trung tâm trong nghiên cứu văn học hiện đại, đặc biệt trong việc phân tích tiểu thuyết lịch sử của các tác giả Việt Nam đương đại. Trong tác phẩm của Trần Thùy Mai, diễn ngôn không chỉ là những câu thoại mà còn là hệ thống các ý tưởng, giá trị và quan điểm được xây dựng thông qua ngôn ngữ. Lý thuyết diễn ngôn giúp chúng ta hiểu rõ cách các tác giả kiến tạo ý nghĩa từ những sự kiện lịch sử, biến chúng thành những câu chuyện mang tính nhân văn. Sự vận dụng lý thuyết diễn ngôn trong văn học Việt Nam đương đại đã mở ra những góc nhìn mới về mối quan hệ giữa quyền lực, luân lý và tình yêu trong lịch sử dân tộc.

1.1. Định nghĩa diễn ngôn và ứng dụng trong văn học

Diễn ngôn trong tiểu thuyết lịch sử không phải là trình bày sự thật thuần tuý mà là cách biểu đạt những quan điểm, thái độ về lịch sử qua ngôn ngữ. Tác phẩm của Trần Thùy Mai sử dụng diễn ngôn để khắc hoạ các nhân vật lịch sử với chiều sâu nhân văn, biến họ thành những biểu tượng sống của quyền lựcđạo đức. Thông qua diễn ngôn, tác giả tìm cách giải mã những bí ẩn lịch sử và đặt ra những câu hỏi về luân lýcon người.

1.2. Cơ chế hình thành hệ thống diễn ngôn trong tác phẩm

Hệ thống diễn ngôn trong tiểu thuyết lịch sử của Trần Thùy Mai được hình thành từ nhiều nguồn: tư tưởng hiện đại - hậu hiện đại, những sử liệu chính thốngcác truyền thuyết dân gian. Cơ chế này tạo nên một diễn ngôn phức tạp về quyền lực gắn liền với thăng trầm của Nho giáo qua các triều đại. Vai trò của sử liệu là nền tảng để kiến tạo những diễn ngôn mang tính thuyết phục về những quyết định lịch sửnhững tổn thương nhân văn.

II. Diễn ngôn về quyền lực và biến động triều đại

Quyền lực là một trong những chủ đề trung tâm trong tiếp cận diễn ngôn về quyền lực trong tiểu thuyết lịch sử của Trần Thùy Mai. Tác giả khắc hoạ quyền lực không phải là một thứ tuyệt đối bền vững mà là thứ mong manh, dễ vỡ trước những bão táp lịch sử. Từ thời vua Gia Long cho đến triều đại sau cùng, diễn ngôn về quyền lực phản ánh sự thăng trầm của những nhà cầm quyền, những quyết định chính trị và những hệ quả nhân đạo kèm theo. Hậu cung, trong các tác phẩm này, trở thành dạng quyền lực mềm đặc biệt, nơi các nhân vật nữ sử dụng trí tuệtình cảm để ảnh hưởng đến những quyết định quốc gia.

2.1. Quyền lực và Nho giáo qua các triều đại

Quyền lực trong tiểu thuyết lịch sử của Trần Thùy Mai được kiến tạo gắn liền với những thăng trầm của Nho giáo. Các nhân vật nam chính, những nhà cầm quyền, phải đối mặt với xung đột giữa tín chỉ Nho giáo và bối cảnh chính trị hiện thực. Thời vua Gia LongMinh Mạng thể hiện sự vững mạnh của quyền lực trung ương, nhưng sang thời vua Tự Đức trở đi, quyền lực bắt đầu mong manh trước những tác động của thế lực ngoài.

2.2. Hậu cung và quyền lực mềm của phụ nữ

Hậu cung trong tiểu thuyết lịch sử của Trần Thùy Mai là một không gian đặc biệt nơi phụ nữ thực hiện quyền lực thông qua tình cảm, trí tuệ và ảnh hưởng cá nhân. Những nhân vật nữ trong tác phẩm không bị động trước quyền lực nam giới mà chủ động kiến tạo số phận của mình và những người xung quanh. Diễn ngôn về quyền lực mềm này bộc lộ sự phức tạp của quan hệ quyền lực trong xã hội Việt Nam phong kiến.

III. Diễn ngôn về luân lý tình yêu và định mệnh cá nhân

Luân lýtình yêu là những diễn ngôn không tách rời trong tiểu thuyết lịch sử của Trần Thùy Mai. Các nhân vật thường bị kẹp giữa hai lực: bổn phận Nho giáocảm xúc con người thực thụ. Diễn ngôn về luân lý phản ánh bối cảnh văn hoá - chính trị của các triều đại khác nhau, nơi đạo đức xã hội được đặt lên trên cảm xúc cá nhân. Tuy nhiên, tác giả không đơn thuần phê phán mà khắc hoạ sự xung đột nội tâm của những nhân vật đấu tranh với tình yêu, danh dự và bổn phận. Diễn ngôn về tình yêu trở thành câu hỏi về bản chất nhân tính: liệu con người có thể từ bỏ tình yêulợi ích quốc gia?

3.1. Xung đột giữa luân lý và tình cảm

Luân lý Nho giáo trong tiểu thuyết lịch sử của Trần Thùy Mai không phải là nguyên tắc tuyệt đối mà là bối cảnh áp lực tạo nên nỗi đau nhân vật. Các nhân vật nam chính phải lựa chọn giữa tình yêu với người họ yêu và tình yêu quốc gia, tín chỉ Nho giáo. Diễn ngôn về xung đột này bộc lộ sự mỏng manh của con người trước những định mệnh lịch sử đã được sắp đặt sẵn.

3.2. Tình yêu kiến tạo chân dung và số phận

Tình yêu trong tác phẩm của Trần Thùy Mai không chỉ là cảm xúc cá nhân mà là lực lượng định hình số phận. Những diễn ngôn về tình yêu giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tính cách, giá trị và lựa chọn của nhân vật. Tình yêu trở thành lens để khắc hoạ con người trong bối cảnh lịch sử, làm nổi bật sự chân thực nhân văn giữa những quyết định lịch sử to lớn.

IV. Phương thức biểu hiện diễn ngôn qua nghệ thuật tiểu thuyết

Trần Thùy Mai sử dụng nhiều phương thức biểu hiện diễn ngôn để khắc hoạ quyền lực, luân lý và tình yêu trong tiểu thuyết lịch sử. Nghệ thuật xây dựng nhân vật là nền tảng của tất cả các diễn ngôn: mỗi nhân vật được kiến tạo như một biểu tượng của những quan điểm, giá trị hay xung đột. Nghệ thuật đối lập giữa các nhân vật, những motif tương phản giúp tác giả làm nổi bật những mâu thuẫn trong lịch sửnhững trái tim con người. Kỹ thuật khắc hoạ nội tâm, những đối thoại nội tâm, những hình ảnh thiên nhiên được tượng trưng - tất cả đều phục vụ cho mục đích thể hiện những diễn ngôn sâu sắc về bản chất con người giữa những cuộc chiến của lịch sử.

4.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật và diễn ngôn

Nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử của Trần Thùy Mai không phải là những biểu tượng đơn chiều mà là những con người phức tạp với nhiều mâu thuẫn nội tâm. Nghệ thuật xây dựng nhân vật liên kết chặt chẽ với quá trình vận hành các diễn ngôn: mỗi hành động, lời thoại của nhân vật đều phản ánh những quan điểm, giá trị hay xung đột về quyền lực, luân lý và tình yêu. Sự đối lập, tương phản giữa các motif nhân vật tạo nên một bức tranh phức tạp về lịch sử và nhân tính.

4.2. Kỹ thuật tường thuật và tính đa thanh lịch sử

Điểm nhìn tường thuật trong tiểu thuyết lịch sử của Trần Thùy Mai là đa bội và dịch chuyển: tác giả không chỉ tường thuật từ góc nhìn của nhân vật mà còn luân phiên điểm nhìn để tạo nên tính đa thanh, đa giọng trong các đối thoại lịch sử. Mối quan hệ giữa hư cấu và sự thật lịch sử trong tiểu thuyết không phải là mâu thuẫn mà là sự kết hợp sáng tạo - tác giả sử dụng hư cấu để khai phá những chân lý sâu sắc về lịch sử và nhân loại.

28/12/2025
Luận văn thạc sĩ văn học việt nam diễn ngôn về quyền lực luân lý và tình yêu trong tiểu thuyết lịch sử của trần thuỳ mai

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thuyết về diễn ngôn và cơ chế hình thành các diễn ngôn trong tiểu thuyết lịch sử của Trần Thuỳ Mai Chương 2: Nội dung của diễn ngôn về quyền lực, luân lý và tình yêu trong tiêu thuyết lịch sử của Trần Thuỳ Mai 15 Chương 3: Các phương thức biểu hiện diễn ngôn trong tiểu thuyết lịch sử của Trần Thuỳ Mai 16 CHUONG 1: GIỚI THUYET VE DIEN NGON VA CƠ CHE HÌNH THÀNH CÁC DIEN NGON TRONG TIEU THUYET LICH SU CUA TRAN THUY MAI 1. Giới thuyết về diễn ngôn 1. Khái lược về lý thuyết diễn ngôn Diễn ngôn hay discourse là một thuật ngữ khoa học với ngoại dién rộng lớn trải đài qua nhiều lĩnh vực trong đời song xã hội. Về mặt khái niệm, thuật ngữ này còn nhiều tranh luận để định hình ra một nhận định chung cho mọi mặt.

Nhà nghiên cứu Sara Mills trong cuốn Discourse đã nhận định khái niệm diễn ngôn là một khái niệm phức tap, có thé được coi là có ngoại dién rộng lớn nhất trong lĩnh vực lí luận văn học. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu mà sử dụng khái niệm diễn ngôn với những giới hạn về mặt ngoại dién va nội hàm nhất định. Nhìn chung, nghiên cứu văn học tiếp cận từ lý thuyết dién ngôn thường thông qua ba khía cạnh đó là ngôn ngữ, lí luận văn học va xã hội học với ba đại diện tiêu biéu đó là F. Với giới hạn của luận văn này, chúng tôi lựa chọn tiếp cận theo hai hướng đó là lí luận văn học và xã hội học dé làm rõ tầm ảnh hưởng và chi phối của lí thuyết diễn ngôn tới các tác phẩm tiêu thuyết viết về đề tài lịch sử.

Tu hướng tiếp cận lí luận văn học, học giả nổi bật đại diện cho quan điểm này là Mikhail Bakhtin (1895 — 1975). Theo ông, diễn ngôn không chỉ được thể hiện thông qua cấu trúc ngôn ngữ, ngữ cảnh hay những yếu tố tương tự mà nó còn đại diện cho quan điểm của tác giả chịu ảnh hưởng của một hệ thống ý thức chi phối bởi thời đại và đời song chính trị - xã hội. Từ góc nhìn của M.Bakhtin có thé thấy răng diễn ngôn không tách rời khỏi đời sống ý thức và chịu chỉ phối bởi các yếu tố từ xã hội, những yêu tô này có ảnh hưởng trực tiếp tới quan điểm sáng tác của tác giả, từ đó hình thành nên một hệ thống những diễn ngôn trong một tác phâm văn học cụ thé. Như vậy, từ quan điểm của nhà nghiên cứu thì ngôn ngữ là hình thức của diễn ngôn còn nội dung lại phụ thuộc vào các yếu tố tác động từ đời sống xã hội.Bakhtin cho rang hình thức của diễn ngôn theo khía cạnh này phụ thuộc vào mặt nội dung và nó chỉ trở thành hình thức của 17 diễn ngôn khi có quan hệ mật thiết, đại điện cho nội dung mà tác giả đang phát ngôn trong văn bản.

Văn học với tư cách là một hình thức giao tiếp ngôn ngữ, siêu ngôn ngữ từ góc nhìn diễn ngôn của M.Bakhtin là một hệ thống những ký hiệu thuần tuý, có sự tham gia của ý thức xã hội đã cau thành nên chức năng bên trong của diễn ngôn. “Tat cả những đặc điểm ấy làm cho diễn ngôn trở thành đối tượng nghiên cứu cơ bản của khoa học hình thái ý thức”[6, tr. Tiếp cận diễn ngôn từ góc độ xã hội học là quan điểm được sử dụng và nghiên cứu khá phổ biến. Đại diện tiêu biéu của hướng nghiên cứu này là học giả Micheal Foucault (1926 — 1984).

Nhà nghiên cứu này đã đưa ra một ý nghĩa cụ thé cho khái niệm này, b6 sung vào những thiếu sót của các nhà nghiên cứu trước về khía niệm diễn ngôn. Trong cuốn Khảo cổ học tri thức, ông cho rằng: “Thay vì giảm dan các nét nghĩa đã khá mơ hồ của từ diễn ngôn, tôi tin rằng thực tế tôi đã b6 sung thêm ý nghĩa của nó: lúc thì coi nó như là lĩnh vực chung của trần thuật, lúc thì coi nó như một nhóm trần thuật được cá thé hoá và đôi khi lại xem nó như một thực tiễn trần thuật có số lượng nhất định và có trật tự được quy ước tạo nên vô số các lời phát biểu” [81, tr. Thông qua một số nghiên cứu có thé khang định rằng M.Foucault quan tâm đến những nguyên tắc chỉ phối sự ra đời và vận động của diễn ngôn. Bên cạnh đó, ông cũng khẳng định mối quan hệ giữa tri thức và quyền lực trong quá trình hình thành diễn ngôn.

Quan điểm của Foucault về diễn ngôn được biểu hiện thông qua ba nội dung như sau: Thứ nhất, diễn ngôn được nhìn nhận như tất cả các định nghĩa chung và có hiệu lực về một thực tại khách quan tồn tại hiện hữu trong đời sống xã hội và trải qua một quá trình lịch sử nhất định. Theo quan điểm này, diễn ngôn như một loại hình phương tiện truyền tải ý nghĩa cho văn bản. Tuy nhiên, quan điểm này vẫn còn nhiều giới hạn và chính bản thân Foucault cũng đã thừa nhận về một khu vực vượt ngoài tầm chỉ phối của diễn ngôn. Thứ hai, diễn ngôn được xem như một nhóm các nhận định được cá thé hoá phụ thuộc vào loại hình, mục tiêu, đối tượng được dé cập tới.

Từ hướng này, diễn ngôn được lí giải như một phạm trù có tính hệ thông, có câu trúc rõ rang va xác định được tinh chat. 18 Thứ ba, diễn ngôn như một hoạt động được kiểm soát/điều chỉnh nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định. Như vậy, theo hướng này diễn ngôn có tính lịch sử, quyền lực và liên tục. Sự hình thành của diễn ngôn trong bat kỳ trường hop nào cũng là kết quả có chủ đích, không phải ngẫu nhiên và trong từng trường hợp cụ thé thì quyền lực chi phối tới diễn ngôn có tính riêng biệt.

Quan điểm về diễn ngôn theo hướng thứ ba là quan điểm có ảnh hưởng tới nhiều nhà nghiên cứu nhất. Với việc tiếp cận lý thuyết diễn ngôn theo quan điểm của M.Foucault có thể nhìn nhận được các vấn đề về quy tắc và cau trúc xã hội góp phần tạo lập nên một hoặc một số dién ngôn trong từng đối tượng xác định. Bên cạnh đó, mỗi diễn ngôn đều có một nguyên tắc hình thành riêng biệt, phụ thuộc và đối tượng phản ánh cũng như các yếu tố xã hội như đã đề cập bên trên. Thông qua việc điểm lại các đặc trưng cơ bản nhất về diễn ngôn của các học giả M.Foucault, chúng tôi xác định phạm vi nội ham về khái niệm diễn ngôn được sử dụng trong luận văn này như sau: Thứ nhát, diễn ngôn là một sản phẩm sản sinh trong quá trình vận động theo dòng lịch sử - xã hội.

Với đặc trưng này có thể thấy rằng tầm ảnh hưởng của văn hoá — xã hội — chính trị ở từng thời điểm lịch sử sẽ có tác động tương đối tới sự hình thành và xuất hiện của diễn ngôn. Bên cạnh đó, quan điểm về các mặt văn hoá — xã hội ở mỗi thời kỳ có yếu tố tiên quyết trong sự thúc đây quá trình kiến tạo diễn ngôn về mặt tư tưởng của người phát ngôn hay tác giả. Thứ hai, diễn ngôn không phải là một sản pham tự nhiên, mỗi sự ra đời của một hoặc nhiều diễn ngôn đều có chủ đích, có nguyên tắc và chịu sự chỉ phối bởi một hệ thống quyền lực riêng. Ngoài ra, các diễn ngôn tồn tại có sự tương tác nhất định, góp phần định hướng về quan niệm — tư tưởng trong một sản phẩm cụ thé.

Cùng với đó, trong cùng một đối tượng tôn tại nhiều diễn ngôn sẽ xuất hiện các mối liên kết về chi phối, ràng buộc hoặc triệt tiêu phụ thuộc vào định hướng và các điều kiện xuất hiện của hệ thống diễn ngôn đó. Thứ ba, việc nghiên cứu diễn ngôn trong luận văn này được xác lập thông qua việc tìm hiêu về quá trình hình thành cùng với đặc diém chức năng của từng loại dién ngôn 19 được đề cập tới. Chúng tôi lựa chọn vận dụng kết hợp các hướng tiếp cận diễn ngôn của các học gia đã dé cập tới dé tìm ra sự vận động và phát triển của diễn ngôn trong các tác phẩm tiểu thuyết lich sử trong dòng chảy văn học đương dai. Sw vận dụng lí thuyết diễn ngôn trong Văn học Việt Nam đương dai Nghiên cứu diễn ngôn ở Việt Nam đã diễn ra từ sau những năm 80 của thé kỷ trước, bắt đầu với lĩnh vực ngôn ngữ.

Việc nhìn nhận văn học như một hình thức diễn ngôn dé tìm hiểu, nghiên cứu trong giai đoạn văn học Việt Nam đương đại cũng được bắt đầu từ sớm. Những học giả tiêu biểu của trường phái nghiên cứu diễn ngôn trong văn học Việt Nam phải kế tới như Trần Đình Sử, Trần Văn Toàn,. Thời điểm khởi đầu, các học giả Việt Nam thường tiếp cận lí thuyết diễn ngôn trong văn học bằng cách dich và giới thiệu nhiều tác phẩm của các học giả nổi tiếng trên thế giới như Những van dé thi pháp Doxtoievxki và Lí luận và thi pháp tiểu thuyết của M.Bakhtin (1993), Độ không của lối viết của R.Barthes (1997), Văn học hậu hiện đại thé giới, những vấn dé lí thuyết (2003), Các khái niệm và các thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Au và Hoa Kì thế ki XX của I.Lin (2003), Logic hoc về các van dé thể loại van học của Kate Hambuger (2004), Thi pháp văn xuôi (2004) của Tz.Todorov, Ban mệnh lí thuyết của A.Compagnon (2006), Nhập môn Foucault của L.Susser (2006), Dan luận về văn chương kì do của Tz.Todorov (2006), Thi học và ngữ hoc của R.Jakobson (2008), Những huyén thoại của R. Thông qua việc dịch thuật và giới thiệu các công trình nghiên cứu trên, việc tiếp cận văn học từ lí thuyết diễn ngôn trong giai đoạn văn học Việt Nam đương dai được mở rộng và phat trién.

Bên cạnh việc dịch và giới thiệu các công trình khoa học, các học giả ở Việt Nam đã có những phân tích dựa trên cơ sở những công trình đã công bố đề trao đồi, bàn luận thêm về lí thuyết diễn ngôn, từ đó vận dụng lí thuyết này vào phân tích các hiện tượng văn học đương đại. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử và Trần Văn Toàn đã có nhiều đóng góp trong việc ứng dụng lí thuyết diễn ngôn vào phân tích và nghiên cứu các hiện tượng văn học nước nhà. Trên trang Wordpress cá nhân!, Trần Đình Sử đã có nhiều bài viết chuyên sâu về ứng dụng lí thuyết diễn ngôn trong văn học Việt Nam như: Ban chất xã 1 https://trandinhsu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ