CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về dịch vụ thẻ ngân hàng 1. Khái niệm, đặc điểm thẻ ngân hàng a. Lịch sử ra đời của thẻ ngân hàng Chiếc thẻ ngân hàng đầu tiên xuất hiện từ năm 1946 với cái tên "Charg It", do John Biggins ở Brooklyn (New York) nghĩ ra.
Khi khách hàng mua sắm, hóa đơn sẽ được chuyển đến ngân hàng của Biggins. Ngân hàng trả tiền cho người bán và sau đó khách hàng trả tiền cho ngân hàng. Điểm trừ là loại thẻ này chỉ sử dụng trong phạm vi địa phương và dành riêng cho khách của ngân hàng. Năm 1949, sau một lần đi ăn nhà hàng gặp vấn đề về việc thanh toán, người đàn ông tên Frank McNamara cùng với đối tác đã lập ra Công ty Diners Club, phát hành loại thẻ chuyên dùng để thanh toán tại các nhà hàng - tiền thân của thẻ tín dụng hiện nay.
Chỉ trong năm đầu tiên, có hàng chục nhà hàng ở New York chấp nhận loại thẻ này, và người dùng thẻ lên đến hàng chục nghìn. Dần dần, thẻ được sử dụng thêm ở cả các điểm du lịch, giải trí ngoài lĩnh vực ăn uống. Năm 1958, ngân hàng Bank of America thành lập Công ty dịch vụ BankAmericard, nhằm kinh doanh nhượng quyền thương hiệu và phát hành thẻ với các ngân hàng thẻ trên thế giới. Công ty này nhanh chóng phát triển và trở thành nhà phát hành thẻ tín dụng độc lập VISA vào những năm 1970 và phát hành thẻ ghi nợ (debit) vào năm 1975.
Năm 1966, tiền thân của MasterCard ra đời. Khi đó, Hiệp hội thẻ Liên ngân hàng Mỹ (ICA) là một nhóm ngân hàng phát hành thẻ. Họ chung nhiệm SV: Vũ Thị Minh Thúy - CQ57/15.06 3 Downloaded by DO THI PHUONG THUy (phuongthuy1712@gmail.com) lOMoARcPSD|17917457 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Tài Chính vụ thiết kế hệ thống thẻ tín dụng quốc gia, phát triển một hệ thống mạng lưới thanh toán được chấp nhận rộng rãi. Cũng trong năm này, chiếc thẻ ghi nợ (debit) đầu tiên xuất hiện trên thị trường ngân hàng Mỹ, do Ngân hàng Delaware phát hành.
Đến những năm 1970, có nhiều ngân hàng cũng đưa ra ý tưởng tương tự. Khái niệm, đặc điểm cấu tạo thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng là một loại thẻ được phát hành bởi các ngân hàng hoặc một số công ty tài chính, để thực hiện các giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận. Đây là công cụ thanh toán không dùng tiền mặt, mang lại nhiều tiện ích cho người sử dụng khi thanh toán mua sắm hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền mặt tại ngân hàng hoặc tại các máy rút tiền tự động (ATM). Theo Thông tư “Quy định về hoạt động thẻ ngân hàng” số 19/2020/TT NHNN được NHNN ban hành vào ngày 15/08/2020 thì thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các Điều kiện và Điều Khoản được các bên thỏa thuận.
Về cấu tạo, thẻ ngân hàng có thiết kế là một miếng nhựa được làm từ chất liệu plastic, có hình chữ nhật theo kích cỡ tiêu chuẩn, thường là 8,5*5,5 cm. Những thông tin chủ yếu có mặt trước và mặt sau thẻ ngân hàng gồm: - Mặt trước thẻ: • Số thẻ, ngày hiệu lực của thẻ. • Tên chủ thẻ. • Tên và logo của tổ chức phát hành thẻ.
• Tên gọi loại thẻ. • Chip thẻ - Mặt sau thẻ: Downloaded by DO THI PHUONG THUy (phuongthuy1712@gmail.com) lOMoARcPSD|17917457 • Dải băng từ chứa các thông tin đã được mã hóa. SV: Vũ Thị Minh Thúy - CQ57/15.06 4 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Tài Chính • Chữ ký của chủ thẻ. • Logo tổ chức chuyển mạch thẻ trong nước.
Lợi ích của thẻ ngân hàng - Đối với xã hội: + Nhanh chóng, chính xác và tiện lợi hơn trong việc dùng thẻ thanh toán tiền, hàng hoá, dịch vụ: người ta không cần phải mang theo nhiều tiền để mua hàng, không phải nhận những tờ tiền lẻ, tiền giả, tiền rách, không tốn nhiều thời gian để kiểm, đếm… + Giảm được nhiều chi phí cho xã hội: thanh toán qua thẻ sẽ giảm được một khối lượng tiền mặt trong lưu thông, từ đó giảm được một khoản chi phí rất lớn cho việc in ấn, vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm, nhân sự thực hiện… + Góp phần kiểm soát và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, khi mà hầu hết các khoản thu nhập và chi phí đều thanh toán qua ngân hàng thì việc tính thuế và thu thuế sẽ dễ dàng hơn, hạn chế tình trạng trốn thuế. + Góp phần tạo môi trường thu hút khách du lịch và đầu tư, cải thiện môi trường văn minh thương mại và văn minh thanh toán, nâng cao hiểu biết của cư dân về các ứng dụng công nghệ tin học trong phục vụ đời sống. - Đối với nền kinh tế: Thúc đẩy nền kinh tế phát triển , giúp nhà nước quản lý nền kinh tế cả về vi mô và vĩ mô. Việc áp dụng công nghệ hiện đại của việc phát hành và thanh toán thẻ quốc tế sẽ tạo điều kiện cho việc hội nhập nền kinh tế Việt Nam và nền kinh tế thế giới.
- Đối với ngân hàng phát hành thẻ: Ngân hàng phát hành thẻ có thể tìm kiếm được lợi nhuận khi phát hành Downloaded by DO THI PHUONG THUy (phuongthuy1712@gmail.com) lOMoARcPSD|17917457 thẻ vì thu được chi phí của hai bên: phí thu từ thẻ và từ đại lý chấp nhận thẻ. Thông qua các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, các ngân hàng SV: Vũ Thị Minh Thúy - CQ57/15.06 5 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Tài Chính có thể đa dạng danh mục sản phẩm của mình để phục vụ khách hàng, tạo điều kiện để thu hút khách hàng đến với giao dịch ngân hàng. Mặt khác, ngân hàng còn huy động được lượng lớn tiền gửi tiết kiệm với lãi suất thấp. - Đối với ngân hàng thanh toán: Ngân hàng thanh toán có thể gia tăng lợi nhuận từ phân chia hoa hồng được hưởng khi làm trung gian thanh toán, có thêm các dịch vụ thanh toán mới để phục vụ khách hàng hiện có, góp phần duy trì sự trung thành của khách hàng.
- Đối với đơn vị chấp nhận thẻ: Thông qua việc làm đại lý chấp nhận thẻ, các đơn vị kinh doanh có thể thu hút khách hàng sử dụng thẻ. Đa dạng hóa hình thức thanh toán sẽ giúp các đơn vị kinh doanh tạo nên sử dụng thuận tiện cho khách hàng trong việc thanh toán, qua đó góp phần tăng doanh thu. - Đối với chủ thẻ: + Là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt được pháp luật chấp nhận, thuận tiện cho việc thanh toán. + Là một hình thức gửi tiền một nơi, sử dụng được nhiều nơi, việc sử dụng dễ dàng, nhanh chóng, an toàn, văn minh và hiện đại.
+ Có thể sử dụng thẻ trên phạm vi quốc tế, giảm đến mức tối thiểu nhu cầu dự trữ tiền mặt. + Trong một số trường hợp, chủ thẻ được ngân hàng cho vay tiền sử dụng trước, trả sau mà không cần phải thế chấp (thấu chi).Các loại thẻ ngân hàng Dựa vào từng đặc tính mà thẻ ngân hàng được phân chia ra nhiều loại khác nhau như theo phương thức thanh toán, nhà phát hành hay công nghệ sản xuất mà thẻ ngân hàng có nhiều loại: - Theo đặc tính kỹ thuật Downloaded by DO THI PHUONG THUy (phuongthuy1712@gmail.com) lOMoARcPSD|17917457 SV: Vũ Thị Minh Thúy - CQ57/15.06 6 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Tài Chính + Thẻ băng từ (Magnetic Stripe) được sản xuất trên kỹ thuật từ tính với một băng từ chứa hai rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Loại này được sử dụng phổ biến trong vòng hơn 20 năm nay. + Thẻ thông minh (Smart Card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ thông minh dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào một “chip” điện tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo.
Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của “chip” điện tử là khác nhau. - Theo tiêu thức chủ thể phát hành: + Thẻ do ngân hàng phát hành (Bank Card): Là loại thẻ giúp cho khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. + Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: Là loại thẻ du lịch hoặc giải trí do các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành như Dinner’s Club, Visa, Mastercard, EuroPay, UnionPay, American Express (Amex), JCB… Hoặc đó có thể là thẻ được phát hành bởi các công ty xăng dầu, các cửa hiệu lớn… - Theo tính chất thanh toán thẻ: + Thẻ tín dụng (Credit Card): Đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người chủ thẻ được sử dụng một hạn mức tín dụng quy định không trả lãi (nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền sử dụng đúng thời hạn) để mua hàng hóa, dịch vụ tại những cơ sở, cửa hàng kinh doanh, khách sạn chấp nhận loại thẻ này. + Thẻ ghi nợ (Debit Card): Đây là loại thẻ có liên quan trực tiếp với tài khoản tiền gửi của chủ thẻ.
Loại thẻ này khi mua hàng hóa dịch vụ, giải trí, những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ và đồng thời ghi có ngay vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn đó. Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản: + Thẻ online: Là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay SV: Vũ Thị Minh Thúy - CQ57/15.06 7 Downloaded by DO THI PHUONG THUy (phuongthuy1712@gmail.com) lOMoARcPSD|17917457 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Tài Chính lập tức vào tài khoản chủ thẻ. + Thẻ offline: Là loại thẻ mà những giá trị giao dịch được khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày. + Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): là loại thẻ được dùng để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc ở ngân hàng.
- Theo hạn mức tín dụng: + Thẻ vàng: Là loại thẻ được phát hành cho những đối tượng có uy tín, khả năng tài chính lành mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn. Loại thẻ này có những điểm khác nhau tùy thuộc vào tập quán, trình độ phát triển của mỗi vùng nhưng chung nhất vẫn là thẻ có hạn mức tín dụng cao hơn thẻ thường. + Thẻ thường: Đây là loại thẻ căn bản nhất, phổ biến đại chúng nhất, được hơn 400 triệu người trên thế giới sử dụng mỗi ngày. Hạn mức tối thiểu tùy theo ngân hàng phát hành quy định.
- Theo phạm vi sử dụng: + Thẻ nội địa: Là loại thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền được sử dụng trong giao dịch mua bán hàng hóa hay rút tiền mặt phải là đồng bản tệ của quốc gia đó.