Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN TẠI CỘNG ĐỒNG 1. Những vấn đề lý luận về tâm thần 1. Khái niệm bệnh tâm thần và các khái niệm liên quan - Sức khỏe tâm thần Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2002) đưa ra quan điểm sức khỏe tâm thần được hiểu là “trạng thái thoải mái, trong đó cá nhân có thể thể hiện được những năng lực của mình, có thể ứng phó được với những stress thông thường trong cuộc sống, làm việc một cách hiệu quả và có khả năng đóng góp cho cộng đồng”. - Bệnh tâm thần Tiếp cận từ góc độ y học, bệnh là những vấn đề bất thường của sức khỏe.
Do vậy bệnh tâm thần chính là những bất thường của sức khỏe tâm thần. Những bất thường về sức khỏe tâm thần rất đa dạng và phong phú. Đó có thể chỉ là những giảm sút về trí nhớ, chú ý; cũng có thể là những thay đổi về tính tình hoặc là có những hành vi kích động không có nguyên nhân rõ ràng [19,Tr. Có những BTT nặng (các bệnh loạn thần), quá trình phản ánh thực tại sai lệch trầm trọng, hành vi, tác phong bị sai lệch nhiều.
Có những bệnh BTT nhẹ (các bệnh tâm căn, nhân cách bệnh), quá trình phản ánh thực tại cũng như hành vi tác phong rối loạn ít, bệnh nhân vẫn còn có thể sinh hoạt, lao động, học tập được, tuy có giảm sút. BTT ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của từng cá nhân trong gia đình. Không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân người bệnh, mà còn ảnh hưởng đến đời sống vật chất, tình thần của mọi thành viên. BTT không được can thiệp hỗ trợ điều trị kịp thời, phù hợp sẽ có thể dẫn đến tình trạng bệnh tiến triển nặng và gây ảnh hưởng đến khả năng phục hồi hòa nhập của người bệnh.
Một số dạng bệnh tâm thần phổ biến Bệnh tâm thần phân liệt Các rối loạn phân liệt có đặc điểm chung là rối loạn cơ bản và đặc trưng về tư duy, tri giác và cảm xúc không thích hợp hay cùn mòn, ý thức còn rõ ràng và 8 năng lực trí tuệ thường được tư duy. Bệnh nhân thường cảm thấy những suy nghĩ của bản thân bị người khác hiểu rõ, hay ý nghĩ của mình vang thành tiếng hay xuất hiện những âm thanh vang vọng bên tai, thôi thúc bản thân thực hiện những hành vi không rõ ràng. Cảm thấy có sức mạnh tự nhiên hay siêu nhiên đang hoạt động làm ảnh hưởng đến ý nghĩ, cảm xúc hay hành vi của mình. Tri giác thường bị rối loạn theo những cách khác nhau, thường có những ảo thanh bình luận về bệnh nhân.
Nét đặc trưng của cảm xúc là nông cạn, thất thường hay không thích hợp. Trong một số trường hợp tư duy trở nên gián đoạn hay thêm từ khi nói hoặc lời nói không phù hợp. Tác phong có thể trở nên rối loạn trầm trọng, kích động hay sững sờ giữ nguyên tư thế, tập tính cá nhân có thể biến đổi, trở nên mất thích thú, thiếu mục đích, lười nhác và cách ly xã hội. Bệnh thường gặp ở lứa tuổi từ 18 - 30 và tỷ lệ mắc bệnh từ 0,5% - 1% dân số.
Điều trị chủ yếu bằng các thuốc an thần kinh phối hợp với liệu pháp lao động thích ứng xã hội. Bệnh động kinh Bệnh động kinh được xếp vào bảng phân loại chuyên khoa thần kinh, nhưng ở nước ta do ngành tâm thần quản lý và điều trị ngoại trú. Đây là bệnh mãn tính, có nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc trưng là sự lặp đi lặp lại các cơn co giật do sự phóng điện quá mức của các tế bào thần kinh não bộ. Bệnh cảnh lâm sàng đa dạng và có 2 đặc điểm sau: - Tính chất phát sinh đột ngột, cơn.
- Các triệu chứng bệnh lý mãn tính và nặng dần. Có nhiều thể lâm sàng của bệnh động kinh. Đặc điểm lâm sàng chủ yếu của động kinh thái dương (động kinh tâm thần) là rối loạn tâm thần xuất hiện đột ngột, trong cơn thường có rối loạn ý thức, thường có những hành vi nguy hiểm như giết người trong cơn chạy thẳng. Rối loạn tồn tại trong thời gian ngắn và sau đó mất đi đột ngột, sau cơn quên tất cả sự việc xảy ra trong cơn.
Tỷ lệ mắc bệnh động kinh từ 0,4 - 0,5% dân số, thường bắt đầu ở lứa tuổi < 20. Phương pháp cận lâm sàng phát hiện động kinh là ghi điện não có sóng động kinh. Điều trị chủ yếu bằng các thuốc kháng động kinh. Đối với động kinh 9 tâm thần cần phối hợp thuốc kháng động kinh với các thuốc an thần kinh.
Nguyên nhân của bệnh tâm thần Nguyên nhân gây nên BTT là một vấn đề phức tạp. Hiện nay, một số bệnh đã được xác định rõ nguyên nhân những vẫn còn bệnh chưa nhận định rõ. Xung quanh vấn đề bệnh nguyên và bệnh sinh các BTT còn tồn tại nhiều quan điểm và giả thuyết khác nhau. Nguyên nhân thực thể Là những bệnh mà nguyên nhân do tổn thương trực tiếp tổ chức não hay ngoài não gây trở ngại hoạt động của não.
- Do tổn thương trực tiếp đến tổ chức não: + Chấn thương sọ não. + Nhiễm trùng thần kinh (viêm não, giang mai, thần kinh…) + Nhiễm độc thần kinh (nghiện rượu, ma túy, nhiễm độc thực phẩm, nhiễm độc hóa chất công nghiệp, nông nghiệp…) + Các bệnh mạch máu não, các tổn thương não khác (u não, teo não, xơ rải rác, tai biến mạch máu não…) - Do các bệnh cơ thể ảnh hưởng đến hoạt động não: + Các bệnh nội khoa, nội tiết. + Các bệnh về chuyển hóa và thiếu sinh tố… Nguyên nhân tâm lý - Bệnh loạn thần phản ứng bao gồm: loạn thần phản ứng cấp, rối loạn sang chấn sau stress, rối loạn sự thích ứng; - Căng thẳng tâm lý dẫn đến bệnh tâm căn, rối loạn dạng cơ thể, rối loạn phân ly; - Rối loạn hành vi ở thiếu niên do giáo dục không đúng, môi trường xã hội không thuận lợi; - Rối loạn ám ảnh, lo âu… Nguyên nhân do cấu tạo thể chất bất thường và phát triển tâm lý gây ra - Các di tật bẩm sinh; - Thiếu sót về hình thành nhân cách. Các nguyên nhân chưa rõ ràng 10 - Do có sự kết hợp phức tạp của nhiều nguyên nhân khác nhau như di truyền, chuyển hóa, miễn dịch, cấu tạo thể chất… nên khó xác định nguyên nhân chủ yếu.
Các rối loạn tâm thần nội sinh thường gặp là: + Bệnh tâm thần phân liệt. + Rối loạn cảm xúc lưỡng cực. + Động kinh nguyên phát. Các nhân tố thuận lợi cho bệnh tâm thần phát sinh - Nhân tố di truyền Vấn đề di truyền tất nhiên có ảnh hưởng xấu đến một số BTT nhưng không phải là tuyệt đối.
Có khi BTT xuất hiện ở một thành viên bất kỳ trong gia đình mà không có ở các thành viên còn lại, có trường hợp cha mẹ đều có bệnh mà con cháu vẫn khỏe mạnh bình thường. Cũng có trường hợp nhân tố di truyền không tác động vào thế hệ tiếp theo mà vào thế hệ sau nữa. - Yếu tố nhân cách + Nhân cách bao gồm: thích thú, n ă n g l ự c , t í n h c á c h , khí chất,… + Nhân cách mạnh, bền vững là một nhân tố chống lại sự phát sinh các BTT, nhất là các bệnh do căn nguyên tâm lý. Khi bị BTT thì người có nhân cách vững bị nhẹ hơn và hồi phục nhanh hơn.
+ Nhân cách yếu, không bền vững là một yếu tố thuận lợi cho BTT phát sinh, khi mắc BTT sẽ hồi phục khó khăn và chậm. - Tuổi tác Từng giai đoạn lứa tuổi khác nhau có những đặc điểm riêng biệt, vì thế những loại BTT sẽ xuất hiện ở từng giai đoạn lứa tuổi khác nhau, xảy ra ở lứa tuổi này mà ít xảy ra ở lứa tuổi khác. - Giới tính Nam giới thường hay mắc BTT nhiều hơn nữ giới. Các BTT do chấn thương sọ não, nghiện rượu, bệnh động kinh… thường gặp ở nam giới.
Các bệnh rối loạn phân ly (histeria), rối loạn cảm xúc lưỡng cực, trầm cảm, lo âu… hay gặp ở nữ giới. Đặc biệt phụ nữ còn có những rối loạn tâm thần do những sự biến động của nội tiết vào các thời kỳ: dậy thì, kỳ kình nguyệt, sinh nở, tiền mãn kinh mà và mãn kinh. 11 - Tình trạng sức khỏe tâm thần Trên thực tế lâm sàng thường gặp những BTT phát sinh khi sức khỏe bị giảm sút, mất ngủ kéo dài, thiếu dinh dưỡng lâu ngày, làm việc quá sức… Khi người BTT quá suy kiệt thì cần phải nâng cao thể trạng để giúp người bệnh nhanh chóng hồi phục. Nhu cầu của người tâm thần và gia đình họ đang gặp phải tại cộng đồng Nhu cầu của NTT và gia đình phụ thuộc vào nhiều yếu tố tác động khác nhau.
Đối với NTT thuộc dạng khuyết tật tâm thần phân liệt và động kinh thì dựa vào đặc điểm khuyết tật sẽ phát sinh các nhu cầu phù hợp. Đồng thời, NTT thuộc dạng khuyết tật nặng và đặc biệt nặng thì các nhu cầu đa phần thiên về việc hỗ trợ chăm sóc y tế, chăm sóc nuôi dưỡng, và các hỗ trợ khác liên quan đến việc giải quyết khó khăn đột xuất. Cụ thể với những nhu cầu cơ bản sau: - Nhu cầu hỗ trợ y tế là nhu cầu thiết yếu của NTT, tất cả các trường hợp BTT ở mức độ nặng trở lên đều phụ thuộc vào y tế với những hoạt động chăm sóc, điều trị và sử dụng thuốc đặc trị thường xuyên. Ngoài việc thăm khám điều trị thì công tác chăm sóc sức khỏe với những hình thức can thiệp y tế khác nhau đều được gia đình mong muốn hỗ trợ thường xuyên; - Với NTT không có khả năng hoặc hạn chế khả năng lao động, tự phục vụ sinh hoạt thì nhu cầu có người chăm sóc, hỗ trợ chăm sóc nuôi dưỡng là cần thiết.
Để giải quyết những khó khăn gặp phải trong quá trình sinh hoạt thì NTT luôn cần người chăm sóc hỗ trợ; - Nhu cầu được kết nối chuyển gởi dịch vụ, trong đó gia đình NTT mong muốn nhận được sự ghi nhận về điều kiện sống của gia đình, những thông tin của NTT liên qua đến tình hình sức khỏe tâm thần, những nhu cầu thiết thực được trợ giúp. Từ đó gia đình mong muốn được giới thiệu những nguồn lực phù hợp với hoàn cảnh sống của cá nhân và gia đình NTT; - Điều kiện sống khó khăn, thường xuyên xuất hiện những vấn đề cần giải quyết liên quan đến tài chính gia đình.