Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về doanh nghiệp tư nhân. Chương 2: Địa vị pháp lý và vai trò thực tế của DNTN ở Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao địa vị pháp lý và vai trò thực tế của doanh nghiệp tư nhân. Nghiên cứu và hoàn thiện chế định địa vị pháp lý của DNTN là vấn đề phức tạp.
Hơn nữa, với thời gian ngắn, thông tin và trình độ người viết còn hạn chế, do vậy luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong sẽ nhận được nhiều ý kiến phê bình, đóng góp của thầy cô giáo và các bạn. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN 1. Khái quát về Doanh nghiệp tƣ nhân ở Việt nam hiện nay 1.
Địa vị pháp lý và vấn đề tiếp cận địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân Theo cách hiểu truyền thống, địa vị pháp lý của một doanh nghiệp là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp đó được pháp luật ghi nhận, đảm bảo sự độc lập về mặt pháp lý và khả năng tham gia các quan hệ pháp luật, trước hết là quan hệ luật kinh tế và từ đó có thể phân biệt với các chủ thể kinh doanh khác. Một doanh nghiệp không chỉ tham gia các quan hệ pháp luật kinh tế, các quan hệ kinh doanh mà có thể đồng thời tham gia nhiều quan hệ khác như: quan hệ dân sự, hành chính, lao động… Khi xem xét địa vị pháp lý của một doanh nghiệp với tính chất tổng thể là các quyền và nghĩa vụ pháp lý của một doanh nghiệp, trong khoa học pháp lý đã có lúc có quan niệm xem xét vấn đề theo phương diện khái niệm thẩm quyền, bao gồm những quyền và nghĩa vụ trong nhiều lĩnh vực và phương diện tồn tại, hoạt động của doanh nghiệp [1]. Trong đó, thẩm quyền trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh được coi là một nội dung chủ yếu trong hệ thống thẩm quyền của doanh nghiệp với lý do doanh nghiệp là tổ chức kinh tế… được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Thẩm quyền kinh tế của một doanh nghiệp bao gồm các quyền và nghĩa vụ của nó trong quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Đối với các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì hệ thống thẩm quyền này cũng có những điểm khác nhau. Cũng chính vì vậy, đối với mỗi loại hình doanh nghiệp, pháp luật đều dành cho chúng những quy chế pháp lý riêng [5]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra, khi nghiên cứu địa vị pháp lý của một doanh nghiệp độc lập, từ trước đến nay, trong khoa học pháp lý vẫn thường đề cập đến khái niệm pháp nhân (hay tư cách pháp nhân). Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay thì tư cách pháp nhân và tư cách chủ thể pháp lý không phải là đồng nhất.
Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khi mà pháp luật kinh tế chỉ điều chỉnh các quan hệ và hoạt động kinh tế của doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã, thì vấn đề pháp nhân và tư cách pháp nhân của những chủ thể này cũng không được quan tâm nhiều, tuy nhiên khi những lọai hình chủ thể kinh doanh mới có tư cách pháp nhân như công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh xuất hiện thì vấn đề tư cách pháp nhân đã được đặt ra và xem xét một cách cụ thể hơn. Nội dung của khái niệm pháp nhân theo quan niệm của luật Dân sự truyền thống đã trở lên quá chật hẹp đối với các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Hơn thế nữa, từ hệ thống pháp luật hiện hành về các doanh nghiệp của nước ta cho phép khẳng định là: bên cạnh những chủ thể kinh doanh là pháp nhân còn có sự tồn tại của những doanh nghiệp tuy không phải là pháp nhân, nhưng chúng vẫn là những thực thể pháp lý có tư cách pháp lý độc lập tham gia vào các quan hệ kinh tế và các quan hệ pháp luật. Hơn nữa, khi xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp, chúng ta phải gắn với chúng với sự phát triển của các mô hình kinh tế, cơ chế kinh tế mà trong khuôn khổ đó các doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Như vậy, có thể thấy nội hàm địa vị pháp lý của doanh nghiệp được phản ánh và thể hiện ở những phương diện sau: Thứ nhất, các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, chức năng của từng loại hình doanh nghiệp; tính chất, đặc điểm tổ chức kinh doanh trong mỗi loại hình doanh nghiệp. Thứ hai, tổng hợp các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp được pháp luật quy định phù hợp với vị trí, vai trò và chức năng của 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh nghiệp và những quyền hạn và nghĩa vụ mà doanh nghiệp đảm nhận trên cơ sở những quy định của pháp luật khi doanh nghiệp tham gia vào các quan hệ pháp luật trong quá trình hoạt động. Những quyền và nghĩa vụ này được quy định trong hệ thống các văn bản bao gồm: - Các văn bản quy định chung về quyền và nghĩa vụ cho mọi doanh nghiệp trong hoạt động kinh tế - xã hội (luật thuế, luật lao động, luật hải quan, các quy định về bảo hiểm, xuất nhập khẩu…) - Các văn bản quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động đối với các loại doanh nghiệp (LDN Nhà nước, LDN tư nhân, luật công ty trước năm 2000 và LDN 2005 hiện hành - Các quyết định thành lập, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, địa bàn hoạt động kinh doanh, ngành nghề kinh doanh… Có thể thấy rằng từ thời kỳ Đổi mới 1986 đến nay các chủ thể hoạt động sôi động nhất và được quan tâm, nghiên cứu nhiều nhất trong khu vực kinh tế tư nhân là các doanh nghiệp có tư cáchs pháp nhân như các công ty TNHH (TNHH), công ty cổ phần (CTCP), DNTN chưa dành được nhiều chú ý. Cho đến nay, những vấn đề về địa vị pháp lý của DNTN còn ít được nghiên cứu về mặt lý luận.
Vì vậy, để tiếp cận địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, cần phải tham khảo những công trình khoa học hiện có, các quan điểm của một số tác giả đề cập đến các vấn đề chủ thể pháp luật, chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, về doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp Nhà nước và các loại hình công ty nói riêng, cũng như các quan niệm về doanh nghiệp và địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân. Khi đề cập đến địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật nói chung hay một doanh nghiệp nào đó, có tác giả xem địa vị pháp lý là toàn bộ quyền và 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa vụ của chúng được Nhà nước thừa nhận. Trong công trình nghiên cứu về địa vị pháp lý của một số loại hình doanh nghiệp, có tác giả lại quan niệm pháp nhân là khái niệm phản ánh địa vị pháp lý của một tổ chức (trong đó có các doanh nghiệp). Ở đây, tác giả có quan niệm không thống nhất với các quan điểm nêu trên.
Vì một chủ thể kinh tế nói chung, một doanh nghiệp (trong đó có DNTN nói riêng) không chỉ có các quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực kinh tế mà còn có các quyền và nghĩa vụ khác. Các chủ thể này không chỉ chịu sự điều chỉnh của luật kinh tế, mà còn chịu sự điều chỉnh của các ngành luật khác như hành chính, hiến pháp, lao động, dân sự, môi trường, đất đai… Trong quá trình nghiên cứu địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, có thể nhận thấy, nhiều tác giả đã đồng nhất các khái niệm tư cách chủ thể pháp luật, tư cách pháp nhân với khái niệm địa vị pháp lý của doanh nghiệp. Sự đồng nhất này có những điểm không chuẩn xác. Ở đây, tác giả thống nhất với quan điểm cho rằng tư cách pháp nhân và tư cách chủ thể pháp luật là hai vấn đề có nội dung và bản chất pháp lý khác nhau.
Bởi vì tất cả các doanh nghiệp được pháp luật thừa nhận và bảo hộ thì đều có tư cách chủ thể pháp lý độc lập. Nhưng chỉ những doanh nghiệp có trách nhiệm giới hạn về tài sản thì chúng mới là pháp nhân. Bởi vì, dấu hiệu cơ bản của pháp nhân là: chỉ chịu TNHH trong số tài sản của mình đem ra kinh doanh (TNHH). Trong trường hợp này, có sự tách biệt giữa tài sản góp vào doanh nghiệp và tài sản mà người góp vốn không góp vào doanh nghiệp (tài sản dân sự).
Trong khi đó, DNTN với trách nhiệm vô hạn không có sự tách biệt, giới hạn về trách nhiệm tài sản và trong mọi trường hợp, họ phải chịu trách nhiệm đến cùng về thiệt hại thực tế. Quan điểm này phần nào đã bác lại quan điểm cho rằng: tư cách pháp nhân một chế định pháp lý thể hiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chính vì địa vị pháp lý của một chủ thể kinh doanh, nhất là của các doanh nghiệp là những khái niệm chưa được thống nhất, chưa được nghiên cứu đầy đủ, nên khi đề cập đến các đặc trưng của chúng, các tác giả thường dùng một khái niệm: tư cách chủ thể pháp luật của doanh nghiệp được nhà nước thừa nhận là một chủ thể pháp lý độc lập. Theo đó, tư cách chủ thể phản ánh vị trí, vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
Theo tác giả, những quan điểm nay ít nhiều đã làm sáng tỏ dần khái niệm địa vị pháp lý của doanh nghiệp. Tuy nhiên cần có cách tiếp cận mới năng động và đa dạng đối với địa vị, vai trò mới của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường. Khi nghiên cứu về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, việc đầu tiên chúng ta phải xác định khái niệm về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân. Muốn làm sáng tỏ khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân, trước hết chúng ta phải làm sáng tỏ loạt khái niệm như: chủ thể pháp luật, chủ thể luật kinh tế, chủ thể kinh doanh, doanh nghiệp… Điều đáng lưu ý là trong LDN 2005 chỉ mới đề cập đến những vấn đề kinh doanh, chủ thể kinh doanh và doanh nghiệp.
Theo nghĩa đó, doanh nghiệp (trong đó có doanh nghiệp tư nhân) là những chủ thể kinh doanh độc lập, đồng thời cũng là chủ thể pháp luật kinh tế độc lập.