Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu địa danh 1. Tình hình nghiên cứu địa danh trên thế giới Từ thế kỷ thứ 1 sau công nguyên (SCN), cụ thể vào năm công lịch 58, các nhà sử học đã bắt đầu biên soạn bộ thư tịch có nội dung giới thiệu địa danh được xếp vào loại văn bản cổ nhất có tên “Hán thư”.
Trong đó, thư tịch đề cập khoảng 4000 địa danh cổ của Trung Hoa vào thời điểm trước công nguyên (TCN). Sau đó, đến thời Bắc ngụy (515 - 527), Lịch Đạo Nguyên dựa trên bản gốc của cuốn “Thủy kinh” do người Tam quốc viết trước đó để biên chú lại thành cuốn “Thủy kinh chú sớ” với mục đích ghi chép rõ hơn, phong phú hơn về lịch sử, nguồn gốc của các dòng sông ở Trung Hoa lúc bấy giờ. Tuy nhiên, tài liệu này chỉ phần lớn thực hiện biên soạn về các con sông ở Trung Hoa mà không thể hiện nhiều thông tin ở lĩnh vực khác như sơn danh, thủy danh, phương danh, phố danh [187]. Đến những năm cuối thế kỷ 19 đầu 20, hai học giả là Dương Thủ Kính và Hùng Hội Trinh trên cơ sở cuốn “Thủy kinh chú” cũ, đã biên soạn thành khoảng 40 quyển với hơn 1.
Tại phương Tây, cụ thể ở Ý vào đầu thế kỉ thứ 17 (1667), cuốn từ điển đầu tiên về nơi chốn ở Roma đã ra đời dưới dạng giải nghĩa các tên gọi ở Roma. Đến những năm đầu của thế kỉ 20, các nhà nghiên cứu ở Anh và các nước Châu Âu mới bắt đầu nghiên cứu về các địa danh (tên gọi địa lý). Vào thời điểm này, phương pháp thực hiện đã bài bản hơn và đặt tên gọi chính thức cho lĩnh vực nghiên cứu này là Địa danh học (Toponymy). Điển hình là cuốn “Địa danh học Pháp” của tác giả A.
Tiếp theo đó, vào những năm 1950, công việc nghiên cứu địa danh theo các hướng tiếp cận khác nhau như lịch sử, địa lý, văn hóa đã dần được thực hiện khá nhiều bởi các nhà ngôn ngữ học tại các nước phương Tây nói chung. Sau thế chiến thứ hai, tại Mỹ, nhà địa danh học nổi tiếng George. Stewart đã hoàn thành cuốn Names on the Land: A historical account of Place - naming in the United States (1945). Trong tác phẩm này, ông giới thiệu nguồn gốc hình thành 7 và nguyên cớ thay đổi trong tên gọi của các nhóm đơn vị địa lý tự nhiên/nhân văn trên toàn đất nước Mỹ dưới sự tác động của lý do chính trị trong giai đoạn thế chiến thứ hai.
Mặt khác, ông vận dụng các lý thuyết nghiên cứu lịch sử kết hợp với ngôn ngữ học lịch sử để giải quyết các vấn đề về căn nguyên tên gọi của đối tượng địa lý, địa hình này. Tiếp theo đó, các nhà nghiên cứu đi vào thực hiện loạt tác phẩm khảo sát tên gọi các nơi chốn thuộc những tiểu bang của Mỹ như: Toposaurus: A humourous Treasury of Top-O-Nyms (1990): Tác phẩm đi vào giải thích sự lý thú trong nguồn gốc tên gọi của các địa danh gắn liền với vật thể, sự vật gần gũi với cuộc sống đời thường; Naming New York: Mahattan places and how they got their names (2001): Công trình này viết về nguồn gốc hình thành địa danh tại thành phố Nữu - Ước (New York) của Mỹ với phạm vi khảo sát các đơn vị hành chính tại khu vực quận Mã Nhật Tân (Mahattan); Native American place names of Connecticut (2006): tác phẩm khảo sát đặc trưng tên gọi có nguồn gốc “tiếng Mỹ” bản xứ của nhóm địa danh tại tiểu bang Connecticut; Place names of Winconsin (2016): Tương tự tác phẩm trước, công trình này đi vào khảo sát và phân tích nguồn gốc và đặc điểm định danh của nhóm địa danh bản địa tại tiểu bang Connecticut. Có thể thấy, các nghiên cứu nêu trên đa phần được thực hiện bằng cách tiếp cận theo hướng nghiên cứu chuyên ngành lịch sử (Historic) và từ nguyên (Etymology). Tại Anh, nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực địa danh được hình thành hầu hết từ sau thế chiến thứ hai.
Vào những thập niên 70, cũng tương tự tình hình nghiên cứu địa danh tại Mỹ, các nhà ngôn ngữ học đã cho ra đời các nghiên cứu về địa danh nước Anh nói chung và địa danh các vùng miền trên toàn lãnh thổ Anh quốc. Có thể kể đến các chuyên khảo: English Place-name (1977) của tác giả Kenneth Cameron: Đây được xem là công trình nghiên cứu đầu tiên về hệ thống địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ Anh tại Anh quốc, tác giả đã đi vào liệt kê, phân loại và bình giảng mấy vấn đề về sự hình thành tên gọi của địa danh vương quốc Anh; Place names in the landscape: The geographical roots of Britain Place names (2000) của tác giả Margaret Galling, kế thừa các nghiên cứu trước đây về địa danh tại vương quốc Anh, công trình này giới thiệu một cách tổng thể địa danh hiện hữu trên toàn vương quốc Anh (Bao gồm 4 quốc gia: Ái-Nhĩ-Lan (Ireland), Tô-Cách-Lan (Scotland), Anh-quốc (England) và 8 Uy-Nhĩ-Sĩ (Xứ Wales); The place names of Hamsphire (1989): công trình này do tác giả Richard Coats thực hiện để khảo sát tên gọi và các đặc trưng văn hóa của khu vực Hamsphire, một hạt thuộc vương quốc Anh; The book of London place names (2010): trong cuốn sách này, tác giả Caroline Taggart thống kê số lượng khá lớn địa danh và đi vào phân tích cách thức định danh cũng như đặc điểm nguồn gốc ngôn ngữ cấu thành nên địa danh thuộc thủ đô hoa lệ tại đất nước Anh. Ngoài ra, các nhóm nghiên cứu thực hiện các chuyên khảo về nguồn gốc ngôn ngữ và đặc điểm cấu tạo hệ thống địa danh tại hạt Cornwall, một hạt nghi lễ của Anh, tiêu biểu như: Saxon Place-names in East Cornwall; Cornish place names elements (1987); Cornish place name and language (1995); A Gazetteer of Cornish Manor (1998); An index to the historical place names of Cornwall volume 1-2 (2007). Về tác phẩm từ điển, Dauzat cùng với Ch.Rostaing đã hoàn thành cuốn “Từ điển ngữ nguyên học các địa danh ở Pháp” dựa trên cuốn sách được xuất bản trước đó 15 năm [186].
Tại các quốc gia Châu Âu và Mỹ, các bộ từ điển chuyên ngành địa danh cũng được các nhà nghiên cứu địa danh cho ra đời như: Dictionary of American place names (1970); The concise Oxford dictionary of English place names (1974); A dictionary of English place names (1991), Dictionary of London place names (2001); Dictionary of British place names (2019). Có thể thấy, các tác phẩm cho thấy bước tiến đáng kể trong việc tiếp cận chuyên ngành địa danh theo hướng nghiên cứu ngôn ngữ học thay vì hướng tiếp cận lịch sử, văn hóa như trước đây. Một trong những nghiên cứu nổi bật trong giai đoạn này là cuốn sách mang tên “Toponymy - the Lore, Laws and Language of Geographical Names” của nhà nghiên cứu Naftali Kadmon. Trong tác phẩm này, tác giả đã khái quát những vấn đề lý thuyết chính yếu của nghiên cứu Địa danh học, chỉ ra và nghiên cứu sâu về 5 chủ đề chính trong Địa danh học: Dẫn luận về đề tài Địa danh học; Tên gọi địa danh như một hiện tượng văn hóa; Quá trình chuyển biến của địa danh; Sự chuẩn hóa địa danh và các tác động; Địa danh trên bản đồ.
Gần đây, tác giả Francesco Cavallaro đã biên soạn cuốn “Place names: Approaches and Perspectives in Toponymy and Toponomastic”. Đây được xem là tác phẩm điển hình nghiên cứu về địa danh trong giai đoạn hiện này. Tác giả miêu tả và đi sâu vào phân tích khá kỹ mấy vấn đề xoay 9 quanh địa danh như: Khái niệm địa danh, cấu trúc phổ quát của một địa danh, sở biểu của sở chỉ địa danh, địa danh với thế giới quan. Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của tác phẩm này vẫn là hệ thống địa danh phổ quát, mang tính chất phổ thông, số lượng ĐDLSVH chưa thật sự đa dạng.
Tựu trung, vấn đề nghiên cứu địa danh học trên thế giới hiện nay ngày càng thu hút nhiều sự quan tâm tìm hiểu của các nhà khoa học cũng như các học giả. Công việc nghiên cứu địa danh có ý nghĩa thực tiễn góp phần phổ cập những hiểu biết cơ bản về nguồn gốc các địa danh trên thế giới, làm tăng giá trị văn hóa lịch sử của vùng đất đối với sự hiểu biết của nhân loại và ở phạm vi hẹp, là luận án của tác giả. Tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam Lịch sử phong kiến đã ghi nhận nhóm công trình viết về các địa danh ở Việt Nam như “Đại Việt sử kí” của tác giả Lê Văn Hưu được hoàn thành năm 1272. Sau đó, công trình này được sử gia Ngô Sĩ Liên kế thừa và viết tiếp bộ “Đại Việt sử kí toàn thư”, hoàn thành năm 1697.
Quyển này có một số thông tin đề cập đến địa danh nhưng cách tiếp cận của tác giả chủ yếu thiên về khía cạnh lịch sử. Bên cạnh đó, “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, được viết vào năm 1435 đã tiếp cận các địa danh theo hướng viết địa lý, khái quát toàn bộ các địa danh, địa phương được liệt kê, phân loại theo vùng miền của nước Đại Việt ta thời điểm đó. Đến thế kỉ thứ 19, một sử gia miền Nam là Trịnh Hoài Đức đã viết bộ sách “Gia Định thành thông chí” gồm 6 cuốn, xuất bản vào khoảng năm 1820 - 1822, nêu khá rõ về núi, sông, lịch sử hình thành, phong tục, văn hóa của vùng đất Gia Định và Nam bộ xưa. Trong đó ở quyển một, ông liệt kê tất cả các tên gọi của sông, núi, dịch ra cả chữ Nôm để tiện việc tra cứu cho thế hệ sau.
Đến những năm đầu thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã quan tâm nhiều hơn đến nghiên cứu địa danh học. Một số quyển sách chuyên nghiên cứu về địa danh học ra đời như Lê Trung Hoa viết về địa danh gốc Khơ me, địa danh gốc Chăm trong tiếng Việt; Nguyễn Văn Hiệu về địa danh gốc Hán trong vùng địa danh dân tộc Mông-Dao. Tạ Văn Thông cũng viết về các địa danh gốc Thái và K’ho; Phạm Đức Dương thì giới thiệu về các địa danh có nguồn gốc từ tiếng Thái cổ. Các nghiên cứu này đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển mảng nghiên cứu địa danh học với hướng tiếp cận bằng ngôn ngữ học.
10 Bên cạnh đó, một số chuyên khảo về hệ thống địa danh Việt Nam nói chung và địa danh từng vùng miền nói riêng cũng được các nhà nghiên cứu, học giả nghiên cứu và biên soạn một cách phong phú, đa dạng.