Tổng quan nghiên cứu

Xã Liên Khê thuộc huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng sở hữu diện tích tự nhiên 1.392,58 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 734,36 ha. Nằm tại vị trí ngã ba chiến lược nơi sông Đá Bạc và sông Giá hội tụ, khu vực này từng là căn cứ thủy quân xung yếu của quân dân nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ ba năm 1288. Mặc dù các nguồn sử liệu cổ và các phát hiện khảo cổ học trước đây tại thị xã Quảng Yên thuộc tỉnh Quảng Ninh như bãi cọc Yên Giang, Đồng Má Ngựa và Đồng Vạn Muối đã xác nhận chiến thuật đóng cọc trên sông, nhưng phạm vi mở rộng của thế trận quân sự tại bờ hữu sông Bạch Đằng thuộc địa phận Hải Phòng vẫn còn nhiều khoảng trống khoa học. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ quy mô, đặc điểm hình thái, kỹ thuật tạo dựng và công năng chiến thuật của di tích bãi cọc Cao Quỳ vừa được phát lộ tại xã Liên Khê.

Mục tiêu cụ thể của công trình bao gồm việc thu thập, hệ thống hóa tư liệu địa tầng; chỉnh lý và giám định 38 di tích cọc gỗ cùng 22 hố chôn cọc xuất lộ qua các đợt khai quật trên tổng diện tích gần 2.000 m2 trong giai đoạn 2019 - 2020. Phạm vi không gian tập trung tại khu vực cánh đồng Cao Quỳ và các mặt cắt kiểm tra liên quan, đồng thời mở rộng so sánh với hệ thống di tích chiến trận ven sông vùng Đông Bắc. Phạm vi thời gian tập trung vào thế kỷ XIII, gắn liền với mốc lịch sử năm 1288. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cung cấp chứng cứ vật chất trực tiếp với khung niên đại Carbon-14 đạt khoảng 1270 - 1430 AD, nâng cao độ xác thực lịch sử lên 100% cho các nguồn thư tịch cổ, đồng thời tạo cơ sở khoa học tin cậy để chính quyền địa phương lập quy hoạch bảo tồn quần thể di tích chiến thắng Bạch Đằng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết Địa tầng học khảo cổ học kết hợp với Lý thuyết Khảo cổ học cảnh quan và chiến trường. Địa tầng học giữ vai trò chìa khóa cốt lõi giúp phân tích chính xác mối quan hệ không gian, thời gian và trật tự lắng đọng trầm tích của các tầng văn hóa. Bên cạnh đó, mô hình tích tụ trầm tích đồng bằng châu thổ Đệ tứ được tích hợp nhằm làm rõ quá trình biến đổi dòng chảy cổ của sông Đá Bạc và kênh Lỗ Hải. Khung lý thuyết này vận hành dựa trên 4 khái niệm trung tâm:

  • Tầng văn hóa khảo cổ: Lớp đất chứa đựng dấu vết hoạt động cư trú, canh tác và công trình quân sự của con người trong quá khứ.
  • Trận địa cọc ven sông: Hệ thống chướng ngại vật bằng gỗ được bố trí nhân tạo tại vùng bãi bồi, lạch nước nhằm ngăn cản thuyền chiến.
  • Niên đại tuyệt đối Carbon-14: Phương pháp xác định tuổi mẫu vật hữu cơ dựa trên chu kỳ phân rã của đồng vị phóng xạ Carbon-14.
  • Trầm tích cổ môi trường: Các lớp bùn, sét chứa bào tử phấn hoa phản ánh điều kiện thủy văn, thực vật ngập mặn và lợ thời Trần.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ kết quả 2 đợt khảo sát vào tháng 10 và tháng 11 năm 2019 cùng 2 cuộc khai quật quy mô lớn trên diện tích gần 2.000 m2 trong giai đoạn cuối năm 2019 đến năm 2020 tại cánh đồng Cao Quỳ. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 38 cọc gỗ nguyên trạng, 22 cấu trúc hố chôn cọc, 4 hố đất đen và 3 mẫu đất phân tích bào tử phấn hoa đại diện lấy từ vách địa tầng hố 19.H2 và 19.H3. Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng tại các hố khai quật trọng điểm như 19.H1 diện tích 300 m2, 19.H2 diện tích 198 m2, 19.H3 diện tích 600 m2 cùng các hố 20.H4 và 20.H5 diện tích mỗi hố 98 m2.

Phương pháp phân tích khảo cổ học truyền thống như chỉnh lý, đo vẽ, chụp ảnh và phân loại loại hình học được kết hợp chặt chẽ với phương pháp liên ngành khoa học tự nhiên. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích địa tầng chi tiết kết hợp định tuổi phóng xạ Carbon-14 và phân tích phấn hoa là nhằm giải quyết dứt điểm câu hỏi về niên đại thực tế của bãi cọc, loại trừ khả năng đây là công trình của các giai đoạn lịch sử khác. Hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu GPS được ứng dụng để thiết lập bản đồ số phân bố không gian của các di tích cọc gỗ, giúp tái hiện chính xác cấu trúc thế trận phục kích cổ ven sông.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu thực địa đã mang lại 4 phát hiện quan trọng mang tính đột phá về cấu trúc và kỹ thuật của trận địa bãi cọc Cao Quỳ:

Thứ nhất, tổng số 38 di tích cọc gỗ đã được phát lộ ở độ sâu từ -64 cm đến -165 cm so với mốc chuẩn. Kích thước thân cọc có sự phân hóa rõ nét, chia làm 2 nhóm: nhóm cọc nhỏ đường kính từ 10 - 18 cm tập trung ở phía Đông và nhóm cọc lớn đường kính 28 - 60 cm phân bố chủ yếu ở khu vực trung tâm và phía Tây. Phân tích thành phần gỗ cho thấy cọc được chế tác từ các loại gỗ quý rắn chắc như sến, lim và nghiến. Giám định niên đại Carbon-14 của mẫu cọc số 3 cho kết quả khoảng 1270 - 1430 AD, hoàn toàn tương thích với chiến dịch năm 1288.

Thứ hai, địa tầng di tích làm sáng tỏ 3 hệ tầng địa chất liên tiếp: Hệ tầng Vĩnh Phúc có tuổi hình thành khoảng 47.000 - 37.000 năm trước, Hệ tầng Hải Hưng nguồn gốc đầm lầy lục địa ven biển có tuổi khoảng 7.000 - 4.000 năm trước và Hệ tầng Thái Bình nguồn gốc sông biển hình thành khoảng 1.000 năm trở lại đây. Lớp đất cắm cọc ban đầu nằm trọn trong phần trầm tích của Hệ tầng Thái Bình.

Thứ ba, phát hiện 8 trong tổng số 38 cọc, chiếm khoảng 21,05%, có khoét mộng ngoàm hình chữ nhật thô sơ với kích thước dài từ 15 - 35 cm, rộng 7 - 12 cm ở vị trí cách chân cọc từ 10 - 32 cm nhằm phục vụ việc luồn dây kéo ghìm khi định vị cọc.

Thứ tư, nhận diện 22 dấu vết hố đất đen dạng tròn hoặc hình chữ nhật sâu từ 25 - 138 cm, minh chứng cho sự tồn tại của kỹ thuật đào hố chôn cọc kết hợp ép cắm cọc xuyên sâu vào nền đất sinh thổ.

Thảo luận kết quả

Sự xuất hiện của các cọc gỗ kích thước lớn có chân cọc chặt phẳng hoặc chặt vát tù thay vì đẽo nhọn sắc như ở Quảng Yên phản ánh sự khác biệt sâu sắc về công năng quân sự. Nếu các bãi cọc Yên Giang và Đồng Vạn Muối có đường kính trung bình nhỏ hơn khoảng 30% đến 40% nhằm mục đích đâm thủng đáy thuyền nhỏ khi triều rút, thì bãi cọc Cao Quỳ được thiết kế như một phòng tuyến ngăn chặn kiên cố, cản bước chiến thuyền hạng nặng của quân Nguyên Mông không cho tiến sâu vào sông Giá. Kỹ thuật cắm cọc tại đây có 2 hình thức: kỹ thuật dộng thả trực tiếp vào lớp bùn dẻo và kỹ thuật đào hố chôn chân cọc tại các gò đất cao ven sông khi thủy triều xuống thấp nhất.

Về mặt biểu diễn dữ liệu khoa học, cấu trúc địa tầng 6 lớp trầm tích cùng mật độ phân bố của 38 cọc gỗ được mô hình hóa rõ ràng qua bảng tổng hợp cao độ và biểu đồ mặt cắt phân tầng. Tỷ lệ bào tử phấn hoa ngập mặn như Đước chiếm 2 - 5%, Bần và thực vật ưa lợ như Cói lác chiếm 3%, Hương bồ chiếm 5 - 13% được thể hiện trực quan qua biểu đồ cột, chứng minh khu vực này từng là bãi bồi cửa sông chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ bán nhật triều thế kỷ XIII.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu toàn diện về di tích bãi cọc Cao Quỳ, luận văn đề xuất 4 giải pháp chiến lược:

  • Thiết lập hồ sơ quy hoạch khoanh vùng bảo vệ di tích quốc gia đặc biệt với diện tích vùng lõi tối thiểu 15 ha và vùng đệm 30 ha trước quý IV năm 2026. Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hải Phòng chủ trì phối hợp cùng Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên thực hiện nhằm ngăn chặn hoàn toàn các hoạt động san lấp, đào bới đất nông nghiệp làm hủy hoại tầng văn hóa.
  • Triển khai công nghệ quét Laser 3D và hệ thống cơ sở dữ liệu GIS chuyên ngành cho toàn bộ 38 cọc gỗ và các lát cắt địa tầng trong giai đoạn 2026 - 2027. Viện Khảo cổ học giữ vai trò chủ trì với mục tiêu đạt độ chính xác số hóa 99%, tạo nền tảng lưu trữ vĩnh viễn dữ liệu khảo cổ học ngập nước.
  • Ứng dụng giải pháp bảo quản sinh hóa học bằng phương pháp tẩm dung dịch Polyethylene Glycol hoặc chất gia cố cấu trúc gỗ chuyên dụng, duy trì độ ẩm ổn định trên 90% và chống hiện tượng co ngót, nứt nẻ cho các cọc gỗ sau khai quật trong thời hạn xử lý 12 tháng. Trung tâm Bảo tồn Di sản Di tích thành phố Hải Phòng chịu trách nhiệm trực tiếp.
  • Xây dựng mô hình bảo tàng sinh thái thực địa kết hợp công viên văn hóa lịch sử chiến thắng Bạch Đằng, đặt mục tiêu đón tiếp khoảng 100.000 lượt khách tham quan mỗi năm từ năm 2028. Ban Quản lý Di tích huyện Thủy Nguyên chịu trách nhiệm tổ chức vận hành, kết nối tuyến du lịch di sản liên tỉnh giữa Hải Phòng và Quảng Ninh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình luận văn thạc sĩ này là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Các nhà nghiên cứu và chuyên gia khảo cổ học: Sử dụng cơ sở dữ liệu đo đạc 38 cọc gỗ, thông số 22 hố chôn cọc và các lát cắt địa tầng chuẩn mực để phục vụ công tác so sánh hình thái học chiến trường thế kỷ XIII trên phạm vi cả nước.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Lịch sử - Khảo cổ: Khai thác phương pháp nghiên cứu liên ngành kết hợp giữa khảo cổ học truyền thống với định tuổi Carbon-14, phân tích bào tử phấn hoa và địa mạo học Đệ tứ để ứng dụng vào các đề tài khoa học liên quan.
  • Cơ quan quản lý văn hóa và các nhà hoạch định chính sách bảo tồn: Áp dụng các cứ liệu khoa học thực chứng để xây dựng phương án khoanh vùng bảo vệ di sản ven sông, lập quy hoạch tổng thể bảo tồn di tích cấp quốc gia.
  • Đơn vị phát triển du lịch di sản và thuyết minh viên: Khai thác tư liệu chi tiết về trận Trúc Động, địa hình cổ sông Đá Bạc và kỹ thuật đóng cọc thời Trần để xây dựng chương trình du lịch trải nghiệm giáo dục lịch sử hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước.

Câu hỏi thường gặp

Niên đại tuyệt đối của bãi cọc Cao Quỳ được xác định bằng phương pháp nào và cho kết quả ra sao?
Niên đại của di tích được xác định thông qua phương pháp phân tích đồng vị phóng xạ Carbon-14 trên mẫu cọc số 3 tại Viện Khảo cổ học. Kết quả phân tích cho khung niên đại trong khoảng 1270 - 1430 AD, hoàn toàn trùng khớp với thời điểm diễn ra chiến thắng Bạch Đằng lịch sử năm 1288 của quân dân triều Trần.

Đặc điểm của cọc gỗ Cao Quỳ có gì khác biệt so với các bãi cọc tại Quảng Yên?
Cọc gỗ Cao Quỳ có đường kính lớn hơn đáng kể từ 28 - 60 cm, chân cọc được chặt bằng hoặc chặt vát chứ không đẽo nhọn như cọc ở Yên Giang hay Đồng Má Ngựa. Ngoài ra, 8 cọc tại Cao Quỳ có đẽo mộng ngoàm chữ nhật để luồn dây kéo ghìm cố định vị trí cắm.

Quân dân triều Trần đã khai thác những loại gỗ nào để tạo dựng bãi cọc Cao Quỳ?
Kết quả giám định mẫu gỗ bước đầu của các chuyên gia ngành lâm nghiệp xác định cọc gỗ tại Cao Quỳ được làm chủ yếu từ các loại gỗ tứ thiết rắn chắc gồm gỗ sến, gỗ lim và gỗ nghiến, giúp thân cọc tồn tại bền vững trong môi trường bùn lầy ngập nước suốt hơn 700 năm qua.

Phương pháp cắm cọc tại di tích Cao Quỳ được thực hiện bằng kỹ thuật gì?
Dấu vết thực địa chỉ ra 2 kỹ thuật chính: kỹ thuật dộng thả thẳng đứng cọc gỗ vào tầng bùn lỏng của bãi bồi ven sông và kỹ thuật đào các hố sâu từ 25 - 138 cm tại các gò đất cao khi triều rút kiệt rồi chèn chặt cọc xuống lớp sét sinh thổ.

Bãi cọc Cao Quỳ giữ vai trò chiến thuật như thế nào trong trận chiến Bạch Đằng 1288?
Bãi cọc Cao Quỳ giữ vai trò chốt chặn then chốt trên hướng sông Đá Bạc, ngăn không cho thủy quân Ô Mã Nhi chuyển hướng tiến vào sông Giá, buộc toàn bộ chiến thuyền địch phải di chuyển theo luồng lạch định sẵn vào trận địa phục kích chính trên sông Bạch Đằng.

Kết luận

Luận văn đã đạt được những đóng góp học thuật và giá trị thực tiễn nổi bật qua các điểm then chốt:

  • Khảo sát, khai quật và hệ thống hóa khoa học 38 di tích cọc gỗ cùng 22 hố đào trên quy mô gần 2.000 m2 tại cánh đồng Cao Quỳ.
  • Xác lập khung niên đại Carbon-14 chuẩn xác từ 1270 - 1430 AD, khẳng định di tích thuộc về cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông năm 1288.
  • Làm rõ 2 kỹ thuật cắm cọc độc đáo và chức năng chiến tuyến ngăn thuyền chiến hạng nặng tại ngã ba sông Đá Bạc.
  • Thiết lập hồ sơ địa tầng học liên ngành kết hợp địa mạo trầm tích Đệ tứ và phân tích bào tử phấn hoa cổ môi trường.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện phục vụ quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Thủy Nguyên.

Kế hoạch tiếp theo đề xuất mở rộng diện tích thám sát khảo cổ học dọc dải ven sông Đá Bạc và sông Giá trong giai đoạn 2026 - 2030. Độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm hãy tiếp tục khai thác toàn văn luận văn để tiếp cận chi tiết hệ thống bản vẽ địa tầng, dữ liệu mẫu vật và giá trị lịch sử vẻ vang của dân tộc.