Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên Thế giới ë c¸c n-íc, c¸c vïng l·nh thæ, ®Þa ph-¬ng kh¸c nhau cách nhìn nhận, tiÕn hµnh quy hoạch lâm nghiệp sao cho hợp lý đã được nhiều tác giả đề cập tới ở những mức độ rộng hẹp khác nhau.Việc đưa ra một khái niệm thống nhất là một điều rất khó thực hiện, song phân tích qua các khái niệm cho thấy có những điểm giống nhau, đó là dựa trên quan điểm về sự phát triển bền vững thì các hoạt động có liên quan đến tài nguyên rừng phải được xem xét một cách toàn diện và đồng thời đảm bảo sử dụng nó theo hướng lâu dài và bền vững. C¸c yÕu tè thường được quan t©m trong c«ng t¸c quy ho¹ch lµ các yếu tố về mặt kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học, các đặc điểm xã hội và nhân văn. Quá trình phát triển của quy hoạch lâm nghiệp trên thế giới luôn gắn liền với sự phát triển của Quy hoạch vùng, Quy hoạch cảnh quan, Quy hoạch sử dụng đất.
Quy hoạch vùng, Quy hoạch cảnh quan, Quy hoạch sử dụng đất lµ nh÷ng yÕu tè mang tính định hướng cho c«ng t¸c quy hoạch lâm nghiệp. Quy hoạch vùng Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác – Lê Nin về phân bổ và phát triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra: “Mức độ phát triển lực lượng sản xuất của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn ở chỗ sự phân công lao động của dân tộc đó được phát triển đến mức nào”. Lê Nin chỉ ra:”Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bổ lực lượng sản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Vì vậy, nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng cho sự phân bổ lực lượng sản xuất ở một vùng trong quá khứ và hiện tại để xác định khả năng tiềm tàng và tương lai phát triển của vùng đó. Dựa trên cơ sở học thuyết của Mác và Ăng Ghen, V.I Lê Nin đã nghiên cứu các hướng cụ thể về kế hoạch hoá phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội chủ nghĩa. Sự phân bố lực lượng sản xuất được xác định theo nguyên tắc sau: - Phân bố lực lượng sản xuất có kế hoạch trên toàn lãnh thổ của đất nước, tỉnh, huyện nhằm thu hút các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của tất cả các vùng vào quá trình tái sản xuất mở rộng. - Kết hợp tốt lợi ích của Nhà nước và nhu cầu phát triển kinh tế của từng tỉnh, từng huyện.
- Đưa các xí nghiệp công nghiệp đến gần nguồn nguyên liệu để hạn chế chi phí vận chuyển. - Kết hợp chặt chẽ các ngành kinh tế quốc dân ở từng vùng, từng huyện nhằm nâng cao năng xuất lao động và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Trên các cơ sở trên tôi tiến hành tìm hiểu công tác quy hoạch vùng của một số nước trên thế giới như sau: 1. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Pháp Ở miền Tây Nam nước Cộng hoà Côte D’ivoire người ta đã áp dụng thành công mô hình quy hoạch của M.
Pierre Thénevin với cấu trúc của mô hình là: *) Các hoạt động sản xuất: - Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và trồng trọt công nghiệp với các mức thâm canh cường độ cao, thâm canh trung bình và cổ điển ( truyền thống ). - Hoạt động khai thác tài nguyên rừng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Hoạt động đô thị nh- : khai th¸c, chế biến gỗ, bột giấy, vận chuyển, các loại hình dịch vụ kh¸c. *) Nhân lực theo các dạng thuê thời vụ, các loại lao động nông - lâm nghiệp.
*) Cân đối xuất nhập khẩu, thu chi và các cân đối khác vào ràng buộc về diện tích đất, nhân lực, tiêu thụ sản phẩm: Quy hoạch vùng nhằm đạt mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng tăng thêm giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hoá trong điều kiện thực tiễn của vùng, so sánh với các vùng xung quanh và nước ngoài. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Thái Lan: Tõ những năm 70 của thế kỷ trước c«ng t¸c quy ho¹ch vïng ®· ®-îc chó ý t¹i n-íc nµy. Víi hÖ thèng quy hoạch được tiến hành theo 3 cấp: Quốc gia, Vùng, Á vùng hay Địa phương. Vùng ( Region ): §ược coi như là một Á miền ( Subdivision ) của đất nước, đó là điều cần thiết để phân chia quốc gia thành các Á miền theo các phương diện khác nhau như bố trí dân cư, khí hậu, địa hình.
đồng thời vì lý do quản lý nhà nước hay chính trị, đất nước được chia thành các miền như đơn vị hành chính hay đơn vị bầu cử. Quy mô diện tích của vùng phụ thuộc vào kích thước, diện tích của đất nước. Thông thường vùng có diện tích lớn hơn đơn vị hành chính lớn nhất. Sự phân chia các vùng theo mục đích của quy hoạch, theo đặc điểm của lãnh thổ.
Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp Á miền được xây dựng theo hai cách sau: + Thứ nhất: Sự bổ sung kế hoạch Nhà nước được giao cho vùng, những mục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng, sau đó kế hoạch vùng được giải quyết trong kế hoạch quốc gia. + Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của vùng, các kế hoạch vùng đóng góp vào việc xây dựng kế hoạch quốc gia. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước, phải có sự phối hợp với chính phủ và chính quyền địa phương. Dự án phát triển của Hoàng gia Thái Lan đã xác định được vùng nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng về kinh tế xã hội và chính trị ở Thái Lan và tập trung xây dựng ở hai vùng: Trung Tâm và Đông Bắc.
Trong 30 năm (1961- 1988 đến 1992 - 1996 ) tổng dân cư nông thôn trong các vùng nông nghiệp giảm từ 80% xuống 66,6%, các dự án tập trung vào mấy vấn đề quan trọng: Nước, đất đai, vốn đầu tư kỹ thuật, nông nghiệp, thị trường. Quy hoạch cảnh quan sinh thái: Thuật ngữ “cảnh quan - Landscape” là tổng thể lãnh thổ tự nhiên của bất kỳ một quy mô nào, có sự đồng nhất tương đối về một số hợp phần tự nhiên nào đó, chúng mang tính chất kiểu loại và được phân loại theo các chỉ tiêu dấu hiệu của sự đồng nhất đó. Cảnh quan được các nhà cảnh quan học Trung Quốc lý giải theo 3 cách: - Theo phương diện mỹ học, thì cảnh quan đồng nghĩa với từ “phong cảnh”. Cảnh quan là đối tượng thẩm mỹ, mà rừng được xem là phong cảnh (rừng phong cảnh) - Theo phương diện địa lý thì cảnh quan là tổng hợp các thành phần sinh vật, địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu trên bề mặt địa cầu.
Khái niệm cảnh quan này rất gần gũi với thuật ngữ hệ sinh thái hoặc quần lạc sinh địa. - Cảnh quan sinh thái học. Cảnh quan là sự tổ hợp các hệ sinh thái khác nhau trong một không gian. Một cảnh quan bao gồm sự tụ họp của một số hệ sinh thái ở liền kề nhau có sự ảnh hưởng lẫn nhau, có chức năng liên quan hỗ trợ và phát sinh đặc điểm nhất định trong một không gian.
Cảnh quan có thể thay đổi phụ thuộc vào hình dáng vật lý và vị trí như đỉnh núi, hồ, biển hay đất liền. Cảnh quan cũng có thể chia thành cảnh quan nông thôn hay thành thị tùy thuộc vào mức độ “nhân tạo” của cảnh quan đó. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Các nghiên cứu làm cơ sở cho quy hoạch cảnh quan sinh thái * Nghiên cứu tính đa dạng sinh học. Tính đa dạng sinh học đối với môi trường sống của con người có tầm quan trọng đặc biệt, sự đa dạng sinh học có quan hệ chặt chẽ tới đa dạng cảnh quan, Vì vậy, các nhà sinh học ở Mỹ (California), Nam phi, Chi lê, Australia (Mayer, Lugo, Wilson) đã tiến hành nghiên cứu sự đa dạng sinh học để làm cơ sở cho quy hoạch cảnh quan các khu vực rừng nguyên sinh.
Duy trì tính đa dạng cảnh quan, đa dạng loài và tính đa dạng di truyền là một trong những mục tiêu chủ yếu của quản lý tài nguyên thiên nhiên nói chung, quản lý rừng nói riêng. * Để làm cơ sở quy hoạch cảnh quan sinh thái cho các khu bảo tồn, các nhà khoa học gồm Simpson, Shannnon - Weiner, Richness đã tập trung nghiên cứu về chỉ số đa dạng sinh học. Chỉ số đa dạng sinh học là cơ sở đánh giá đa dạng cảnh quan sinh thái khi tiến hành quy hoạch cảnh quan. Quy hoạch sử dụng đất.
Hiện nay có rất nhiều tài liêu nghiên cứu định nghĩa về quy hoạch sử dụng đất khác nhau, từ đó đưa đến những việc phát triển quan điểm và phương pháp được sử dụng trong quy ho¹ch sö dông ®Êt cũng khác nhau. Theo Dent (1988; 1993) quy ho¹ch sö dông ®Êt như là phương tiện giúp cho lảnh đạo quyết định sử dụng đất đai như thế nào thông qua việc đánh giá có hệ thống cho việc chọn mẫu hình trong sử dụng đất đai, mà trong sự chọn lựa này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt, và từ đó hình thành nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất đai. Một định nghĩa khác của Fresco và ctv., (1992), quy ho¹ch sö dông ®Êt như là dạng hình của quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng tốt nhất về đất đai trên quan điểm chấp nhận những mục tiêu, và những cơ hội về môi trường, xã hội và những vấn đề hạn chế khác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo Mohammed (1999), những từ vựng kết hợp với những định nghĩa về quy ho¹ch sö dông ®Êt là hầu hết đều đồng ý chú trọng và giải đoán những hoạt động như là một tiến trình xây dựng quyết định cấp cao.
Do đó quy ho¹ch sö dông ®Êt, trong một thời gian dài với quyết định từ trên xuống nên cho kết quả là nhà quy hoạch bảo người dân phải làm những gì. Trong phương pháp tổng hợp và người sử dụng đất đai là trung tâm (UNCED, 1992; trong FAO, 1993) đã đổi lại định nghĩa về quy ho¹ch sö dông ®Êt như sau quy ho¹ch sö dông ®Êt là một tiến trình xây dựng những quyết định để đưa đến những hành động trong việc phân chia đất đai cho sử dụng để cung cấp những cái có lợi bền vững nhất (FAO, 1995).