Chương 1. Tổng quan nghiên cứu, trong đó xác định sự cần thiết, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Tổng quan cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến SHL của các doanh nghiệp đầu tư, phân tích mối quan hệ giữa các các yếu tố có liên quan – là biến độc lập đến SHL của các DN đầu tư – là biến phụ thuộc. Trình bày thiết kế nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu, thiết kế bảng hỏi, việc thu thập dữ liệu để xây dựng thang đo, phương pháp phân tích dữ liệu.
Kết quả nghiên cứu, kiểm định độ tin cậy thang đo để đưa vào phân tích nhân tố khám phá, kiểm định hồi quy các giả thuyết và xác định các nhân tố và mức độ tác động đến mô hình nghiên cứu. Kết luận và các kiến nghị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này thảo luận các lý thuyết về đầu tư của DN, SHL của doanh nghiệp đầu tư, môi trường đầu tư, các nghiên cứu trước về các yếu tố ảnh hưởng đến SHL của doanh nghiệp, mối quan hệ giữa các yếu tố đến SHL của doanh nghiệp và đề xuất mô hình nghiên cứu.1 Các khái niệm có liên quan 2.1 Doanh nghiệp đầu tƣ (hay còn gọi là nhà đầu tƣ) Doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, thực hiện một số khâu của quá trình sản xuất phục vụ nhu cầu xã hội. Do đó sự phát triển của doanh nghiệp tạo nên tăng trưởng của nền kinh tế.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, DN là tổ chức được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, như: sản xuất sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm, cung ứng dịch vụ trên thị trường,… nhằm tìm kiếm lợi nhuận.A Caillat (1992) trích trong Đỗ Đình Chuyển (2015), doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất hàng hóa, của cải hay dịch vụ để bán. Như vậy, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế, được thành lập theo những quy định pháp luật, có tư cách pháp nhân, thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Quá trình hoạt động kinh doanh của DN được gọi là quá trình đầu tư. Hiện nay ở mỗi góc độ khác nhau người ta có thể đưa ra các quan niệm khác nhau về đầu tư.
Đầu tư là một hình thức bỏ vốn vào hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội nhằm thu được những lợi ích kì vọng trong tương lai. Nguồn vốn đầu tư bao gồm: tiền vốn, đất đai, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, hàng hoá, bằng sáng chế, phát minh nhãn hiệu hàng hoá, uy tín kinh doanh, quyền thăm dò khai thác, sử dụng tài nguyên, bí quyết kỹ thuật, bí quyết thương mại (Giáo trình Trường Đại học Kinh tế quốc dân, 2007). Theo Robert Eisner (1978) trích trong Lương Đắc Tường (2017), dưới góc độ tài chính, đầu tư là một chuỗi hoạt động chi tiêu của chủ đầu tư, để nhận về một chuỗi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 những dòng thu; dưới góc độ tiêu dùng, đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại để thu về được mức tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội (1995), đầu tư là bỏ vốn vào một dự án hay một công trình bao gồm vốn tự có, vốn vay, vốn liên doanh hoặc cấp phát ngân sách để mua sắm thiết bị, xây dựng mới hoặc thực hiện mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng.
Theo Luật Đầu tư năm 2005, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Theo Đặng Thành Cương (2012), đầu tư là quá trình ứng ra một lượng vốn bằng tiền mặt, tài sản ở thời điểm hiện tại với mục đích là làm tăng thêm giá trị trong tương lai cho chủ thể bỏ vốn. Như vậy, đầu tư phát triển là quá trình bỏ vốn ở hiện tại để tiến hành các hoạt động đầu tư nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản mới (nhà xưởng, thiết bị, tri thức, kỹ năng), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm. Nói chung đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội.
Như vậy, đầu tư là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia, mục tiêu của mỗi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với sự hy sinh về nguồn lực mà DN phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư, do đó thu hút đầu tư trở thành vấn đề rất được lãnh đạo các địa phương quan tâm thực hiện. Phân loại theo nguồn vốn thì có 03 loại đầu tư, gồm: (i) Đầu tư trong nước: Là vốn đầu vào sản xuất kinh doanh tại Việt Nam của các tổ chức, công dân Việt Nam; (ii) Đầu tư nước ngoài: Các tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào khác để tiến hành các hoạt động đầu tư vào Việt Nam theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; (iii) Đầu tư ra nước ngoài: Đây là loại đầu tư của các tổ chức hoặc cá nhân quốc tịch Việt Nam đầu tư sang nước khác. Tóm lại, doanh nghiệp đầu tư hay còn gọi là nhà đầu tư là những tổ chức kinh tế được thành lập theo pháp luật, thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam thông qua việc sử dụng các nguồn lực tài chính, vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 để sản xuất kinh doanh trong một thời gian dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Phân loại doanh nghiệp đầu tư gồm: Doanh nghiệp đầu tư trong nước, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.2 Môi trƣờng đầu tƣ Môi trường đầu tư tốt là yếu tố then chốt tác động đến hành vi đầu tư cũng như SHL của doanh nghiệp trong thu hút đầu tư.
Để có một môi trường đầu tư thực sự hấp dẫn, có sức cạnh tranh thì việc cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi là thật sự cần thiết của các địa phương. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về môi trường đầu tư.M Vijverberg (2004), môi trường đầu tư được hiểu khá rộng là bao gồm tất cả các điều kiện liên quan đến kinh tế, chính trị, hành chính, cơ sở hạ tầng tác động đến hoạt động đầu tư và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo World Bank (2005), môi trường đầu tư là bao gồm những yếu tố đặc thù của địa phương, đó là chính sách của Chính phủ và các yếu tố khác liên quan đến quy mô thị trường, ưu thế địa lý, nhằm tạo ra các động lực và cơ hội để DN đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng quy mô sản xuất. Các yếu tố này có tác động đến chi phí cơ hội vốn đầu tư, mức độ rủi ro và những rào cản về cạnh tranh trong quá trình đầu tư của DN, từ đó DN sẽ xác định những cơ hội và động lực đầu tư đến một địa phương nào đó.
Theo Nguyễn Thị Ái Liên (2011), môi trường đầu tư là tổng hòa các yếu tố của nước nhận đầu tư có ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển kinh tế. Hơn nữa, môi trường đầu tư không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư hoạt động sinh lời mà còn mang lại lợi ích cho mọi người, làm tăng hiệu quả kinh tế xã hội. Theo quan điểm của nhà đầu tư (VietStock, 2002), môi trường đầu tư là tập hợp các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Môi trường đầu tư bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tự nhiên, công nghệ.
Trong đó, chính sách của Chính phủ, các yếu tố về địa lý, về quy mô thị trường là quan trọng. Như vậy dù tiếp cận ở góc độ nào thì trong nghiên cứu này, môi trường đầu tư là tổng thể các yếu tố về pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã hội và các yếu tố cơ sở hạ tầng, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 năng lực thị trường, các lợi thế của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia có liên quan ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư của DN trong và ngoài nước tại vùng lãnh thổ nào đó. * Môi trường đầu tư có thể chia thành 2 loại: - Môi trường cứng gồm các yếu tố thuộc kết cấu hạ tầng giao thông (đường xá, cầu cảng…), hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp điện, nước, hạ tầng khu, cụm công nghiệp… - Môi trường mềm gồm hệ thống dịch vụ hành chính, dịch vụ pháp lý, hệ thống các dịch vụ tài chính, ngân hàng, kế toán, bảo hiểm. Môi trường mềm còn bao gồm các yếu tố về ổn định chính trị, xã hội, phát triển kinh tế.3 Sự hài lòng của doanh nghiệp đầu tƣ Đối với doanh nghiệp thì sự thành công trong kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào việc chọn địa điểm đầu tư kinh doanh.
Vì vậy, để thu hút DN đầu tư và cạnh tranh với các địa phương khác, các nhà quản lý địa phương phải làm cho địa phương mình có những đặc tính riêng làm hài lòng DN đầu tư hiện tại và tương lai. Hiện nay, có nhiều nghiên cứu khác nhau về SHL. Theo Parasuraman và cộng sự (1988), sự hài lòng là tâm trạng, cảm giác của khách hàng đối với nhà cung cấp dịch vụ khi sự kỳ vọng, mong đợi của họ được thỏa mãn; khách hàng đạt được sự thỏa mãn sẽ có được lòng trung thành và tiếp tục sử dụng dịch vụ của nhà cung cấp đó.