Chương 1: Nghiên cứu cơ sở lí luận Chương 2: Khảo sát thực trạng. Chương 3: Thiết kế và khảo nghiệm. Tài liệu tham khảo E. NOI DUNG NGHIÊN CỨU CHUONG 1: NGHIEN CUU CO SO LI LUAN 1.1 Lịch sử nghiên cứu về sáng tạo và phát triển kha năng sáng tao cho trẻ thông qua hoạt động tạo hình 1.1 Những nghiên cứu trên thế giới + Những nghiên cứu về kha năng sáng tạo Trước đây khi nói đến sáng tạo là người ta thường đẻ cập tới những thiên tài trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật như: Wolfgang Amadcus Mozart, Albert Einstein, Lev Nikolayevich Tolstoy, Isaac Newton, Leonardo da Vinci ., vì vậy vấn dé bản chất và quy luật của hoạt động sáng tạo chưa được đi sâu nghiên cứu trên cơ sở các hôi ký, tiêu sử, các tác pham văn học mang khả nang tự thuật của các danh nhân, do vậy, cũng mới chỉ được mô tả, giải thích sơ bộ.
Giữa the kỷ XIX, với những nghiên cứu đầu tiên và có ý nghĩa lớn về sáng tao, các nhà xã hội học đã cho rằng, bản chất của khả năng tích cực sáng tạo là hoạt động tưởng tượng. Quan điềm nay gan với quan điềm của các nha tâm lý học ngảy nay. Sang thế kỷ XX, đây là một thời điểm có tính chất bước ngoặt trong lịch sử phát triển nhân loại, cùng với những tiễn bộ vượt bậc trong các lĩnh vực khoa học, nhiều ngành khoa học ra đời, nhiều thành tựu khoa học được công bé và lĩnh vực sáng tạo cũng bắt đầu được quan tâm nghiên cứu. Như một tat yếu, quốc gia nào càng có nên khoa học kỹ thuật phát triển cao bao nhiêu thì cảng tập trung nghiên cứu về lĩnh vực sáng tao bấy nhiêu.
Khi nói đến lĩnh vực sáng tạo, chúng ta không thẻ không kẻ đến các nghiên cứu của nước Mỹ - một quốc gia có nền khoa học kỹ thuật phát trién cao nhất thé giới. Các nha nghiên cứu ở đây có những điều kiện thuận lợi về mặt cơ sở vật chất đề tiến hành nghiên cứu, vì vậy, cũng như nhiều lĩnh vực khoa học khác, việc nghiên cứu sáng tạo có cường độ mạnh nhất là ở Mỹ. Vào dau những năm 1920, công trình nghiên cứu về sáng tạo của Lewis Terman trên những học sinh giỏi có chỉ số IQ từ 140 trở lên đã được các nhà khoa học học đánh giá cao. Sau đỏ, ông còn tiếp tục nhiều công trình nghiên cứu khác cũng vẻ lĩnh vực sáng 15 tạo, rút ra nhiều kết luận về các van đề chung của sáng tạo như: môi trưởng sáng tạo, vấn dé nhân cách sáng tao, sản phẩm sáng tạo.
Van dé sáng tạo thực chat chỉ được nghiên cứu có hệ thống từ những năm 50 của thé ky XX ma người có công lớn nhất là J.Guilfort - nguyên là giáo sư của một trường dai học tông hợp ở Miền nam California, được dé cử là Chủ tịch hội Tâm lý học Mỹ năm 1950. Trong bai phát biểu tại budi lễ nhậm chức, ông đã dành rất nhiều thời gian dé nói về van dé sang tạo. Ông cũng khuyến khích các nha tâm lý học tham gia nghiên cứu hoạt động sáng tạo. Từ đó van đề sáng tạo được đầu tư và cũng đạt được nhiều thành tựu đáng kê.
Một số các công trình nghiên cứu về sáng tạo đã được xuất bản như: May (1961), Mackinon (1962), Yamamoto (1963), P. Nhiều công trình nghiên cứu trong thời gian này đã được xuất bản nội dung dé cập tới những van dé cơ bản của hoạt động sáng tao, các thuộc kha nang của nhân cách sang tạo, bản chất, quy luật của hoạt động sáng tạo, các giai đoạn của quá trình sáng tạo, vấn đề kích thích nang lực sáng tao. Ngoài ra còn có nhiều tác giả khác ở Mỹ cũng nghiên cứu vấn đề sáng tạo như: Barron, Bloom, Helmholtz, Wallass. Vượt ra khỏi nước Mỹ, các nhà khoa học Liên Xô (cũ) đã có nhiều công nghiên cứu về sáng tạo, đóng góp cho xã hội, nôi bật như: G.
Họ cũng đã tô chức cuộc hội nghị, hội thảo về sáng tạo vào những năm 1960 -1980 tại Matxcova, Praha, Budapest Từ những năm 60 - 70 của thập kỷ 20 trở đi, không chỉ ở Mỹ, Liên xô mà Tây Âu đặc biệt ở Đức. do nhận ra ý nghĩa phát triển kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật cũng như ¥ nghĩa phát triển cá nhân của sáng tạo mà vẫn đẻ sáng tạo đưới góc nhìn mới của Tâm lý học, Giáo dục học và Xã hội học đã được quan tâm nghiên cứu thích đáng. s* Lịch sử nghiên cứu về khả năng sáng tạo của trẻ S- 6 tuôi trong hoạt động tạo hình trên thế giới Việc nghiên cứu về hoạt động tạo hình của trẻ, đặc biệt là hoạt động vẽ có lịch sử khá phức tap va có sự khác nhau giữa các trường phái. l6 Các nhà Tâm lí học ưu sinh như: G.cho rằng hoạt động tạo hình của trẻ chính 1a qua trình tự phát của các khả nang bam sinh, là sự kế thừa một ‘ os +h = ‘ *.
x: X cách tự nhiên những tiêm năng sẵn có của cả loài người. Di sâu vào việc nghiên cứu hoạt động vẽ của trẻ em, các nhà Tâm lí học cấu trúc cho rằng “Tré vẽ những gì nó nhìn thấy”. Ho khang định rang tri giác trọn vẹn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các tác phẩm nghệ thuật. Chính vì vậy, họ đã đánh giá thấp hoạt động lao động sáng tao, đặc biệt hoạt động sang tạo nghệ thuật vốn rất có y thức của con người.
Đối với các nhà Phân tâm học, khi ly giải về bản chất tranh vẽ của trẻ, ho khang định rang “Đứa trẻ vẽ những gì nó cảm thấy”. Cái “cảm thay” chính là nhu cầu ban năng vô thức. Họ đã sinh vật hóa tâm lí con người, làm con người mat đi khả năng chủ thé, kha năng tích cực hoạt động và sáng tạo trong hoạt động vẽ. Có thé thay, khi nhìn nhận về hoạt động tạo hình của trẻ, các trường phải của Tâm lí học nêu trên chỉ dừng lại ở sự phát triển tự nhiên của trẻ ma không thừa nhận rằng hoạt động tạo hình của trẻ là kết quả hoạt động tích cực của chính bản thân trẻ trên cơ sở sự lĩnh hội vả vận dụng sáng tạo các kinh nghiệm xã hội, thực tiền.
Phải đến những năm đầu của thé ky XX, khi mà khoa học sáng tạo bắt đầu phát triển. Các nhà Tâm lí học bắt đầu nghiên cứu sâu hơn về tâm lí trẻ em thì hoạt động tạo hình cũng như khả năng sáng tạo của trẻ được dao sâu nghiên cứu. Đặc biệt là mối quan hệ giữa các yếu to tâm lí: tư duy, tưởng tượng, trí nhớ,. đến kha năng sáng tạo của trẻ trong các hoạt déng.
Có thể kế đến các tác giả như: L.Họ nhân mạnh rằng chính những yếu tổ như: trò chơi, vẽ tranh, kể chuyén,. kích thích làm cho hoạt động sang tạo của trẻ phát trién. Từ năm 1887, việc tim hiểu hình vẽ của trẻ em, đặc biệt là hình vẽ người và gia đình đã được nghiên cứu bởi Corrado Ricci — một nha phê bình hội họa. Sau đó là các công trình nghiên cứu của: Kerchensteiner (1905), Levinstein (1905), Katzaroff (1909-1910) và Luquet (1913).
Các nhà nghiên cứu ding hình vẽ người để đo trình độ phát triển hoặc mức thành thục về trí khôn của trẻ. 17 Năm 1926, nhà tâm lý Goodenough đã cho ra bản trắc nghiệm đầu tiên, đánh giá một cách có hệ thông hình vẽ của trẻ em bang phương pháp cham điểm. Sau này được Harris chỉnh lí và mở rộng gọi là Test Goodenough ~ Harris (1963). Các nhà tâm lý Buck, Koppitz cũng dựa vào hình vẽ người dé xác định chi số IQ của trẻ 5-11 tuổi, Khoảng giữa the ky XX, Guilford và Torrance trên cơ sở nghiên cứu về khả năng sáng tạo của trẻ trong các hoạt động , đã cho ra đời bộ trắc nghiệm đánh giá mức độ sáng tạo ngôn ngữ và sáng tạo phi ngôn ngữ, sáng tạo hình ảnh.
Về sau, bộ trắc nghiệm này được ứng dụng rat nhiều vào các công trình nghiên cứu ve sáng tạo. Năm 1994, trắc nghiệm sáng tạo TSD- Z cua tác giả người Đức Klaus K. Urban ra đời. Đây là dạng trắc nghiệm phi ngôn ngữ (vẽ tranh), phản ánh các cấu trúc sáng tạo, được thiết cho cả trẻ em vả người lớn.
Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu khác của L.Vưgootxki như: “Tif tưởng tưởng sáng tạo ở lứa tuổi thiểu nhỉ”; “Tâm lí học nghệ thuật"; “Sự phái triển của các chức năng tâm li cấp cao”. Khi nghiên cửu về sang tạo ở trẻ em ông đã chỉ ra vai trò của hứng thú đối với việc hình thành và phát huy khả năng sáng tạo của trẻ trong hoạt động tạo hình vả ông đặc biệt nhắn mạnh nguyên tắc tu do trong hoạt động nghệ thuật.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam + Những nghiên cứu về kha năng sáng tao Bên cạnh sự phát triển, nghiên cứu vẻ van dé sang tạo của các nước trên thé giới thi ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến hoạt động sáng tạo và các tài năng sáng tạo. Nhiều hoạt động thé hiện sự chăm lo, bồi dưỡng, khuyến khích những tai năng sáng tạo được tô chức hàng năm: Hội thi sang chế kỳ thuật, tô chức hỗ trợ sáng tạo khoa học vả công nghệ Việt Nam thuộc Viện Khoa học Việt Nam va Trung tâm sang chế khoa học kỹ thuật thuộc Đại học Quốc Gia TP.HCM và nhiều hội thi tài năng được tô chức trong các trưởng học. Năm 1990, Viện khoa học giáo dục thuộc Bộ giáo dục và đảo tạo là cơ quan khoa học đầu tiên ở Việt Nam tiễn hành nghiên cứu về “kha năng sáng tao” của học sinh.
Các công trình nghiên cứu nay quan tâm tới bản chất, cau trúc tâm lý của sáng tạo, phương 18 pháp chan đoán, đánh giá khả năng sáng tao và con đường giáo dục, phát huy khả năng sáng tạo của người Việt Nam. Mãi cho đến nay, chúng ta cũng đã có một số công trình nghiên cứu của các Tiến sĩ, Thạc sĩ đóng góp cho hoạt động sáng tạo như: « Luan án Tiên si của Lê Thanh Thủy nghiên cứu “Anh hưởng của tri giác tới tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động vẽ của trẻ Š - 6 tuổi".