Thực trạng sử dụng vật liệu rời phát triển sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi

Tài liệu nghiên cứu De tai nghien cuu khoa hoc thuc trang su dung nguyen vat lieu roi trong hoat dong chap ghep nham, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Giáo Dục Mầm Non

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài

2023

116
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Lich sử nghiên cứu về sáng tạo và phát triển kha năng sáng tạo cho trẻ thông qua hoạt động tạo hình

1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới

1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam

1.2. Cơ sở lý luận vẻ hoạt động chap ghép của trẻ MAM non

1.2.1. Khải quát về hoạt động chấp GED

1.2.2. Hoạt động chap ghép của trẻ 5-6 tuôi

1.2.3. Nội dung, hình thức và phương pháp tô chức hoạt động chap ghép cho trẻ 5 đến 6 tuổi ở trường mẫNiñöñ

1.2.3.1. VỀ nội đưng
1.2.3.2. Về phương pháp tổ chức

1.3. Vai trò của hoạt động chap ghép đối với sự phát triển của trẻ nói chung và khả năng SắnEtẠ0 CủA(ffÔ HỘI HÊNG

1.4. Những van dé chung vẻ khả năng sáng tao và phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ

1.4.1. Khái niệm và ban chất của sáng tạo và sáng tạo của trẻ em

1.4.2. Bản chất của sáng tạo

1.4.3. Các cấp độ của sáng tạo

1.4.4. Hoạt động sáng tạo Của tré MAM MON

1.4.5. Cac giai đoạn của hoạt động sáng tạo

1.4.6. Đặc điểm sáng tạo của trẻ 5 — 6 tudi trong nghệ thuật tạo hình

1.5. Khái quát nguyên vật liệu rời và hoạt động chap ghép về nguyên vật liệu rời nhằm phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ 5 -6 tuổi

1.5.1. Khái niệm vật liệu rời (Loose pATẨS)

1.5.2. Phân loại nguyên vật liệu 20d

1.5.3. Vai trò của nguyên vật liệu rời với khả năng sáng tạo của trẻ MAM non

1.5.4. Nguyên tắc lựa chọn nguyên vật liệu rời nhằm phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ 5-6tuổi

1.5.5. Biểu hiện sáng tạo của trẻ qua hoạt động chap ghép

1.6. Kết luận chương Ì

2. CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG

2.1. Mục đích Khảo Sat thre tfẠDE

2.2. Nội dung khảo sắt thực trạng

2.3. Đối tượng va khách thé, dia bàn khảo sát thực trạng

2.4. Phương pháp khảo sát thực trạng

2.4.1. Phương pháp sử dụng phiếu khảo Át

2.4.2. TNHGHE PRED QUAN SAL

2.4.3. PRON PRG Hồ GHUỤÔI

2.4.4. Phương pháp xử lỉ số liệu khảo sát thực trANG

2.5. Vài nét về déi tượng và khách thé khảo sát

2.6. Phan tích kết quả, Khao sat thực thang

2.6.1. Thực trạng sử dung nguyên vật liệu rời trong hoạt động chap ghép nhằm phat trién khả năng sáng tạo cho trẻ 5 -6 tuôi

2.6.1.1. Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của vật liệu rời ảnh hưởng thế nào én sdng ta0 CUA WO
2.6.1.2. Cách lựa chọn nguyên vật liệu rời trong hoạt động chap ghép
2.6.1.3. Các tiêu chí lựa chọn và sử dụng nguyên vật liệu rời trong hoạt động sáng tạo
2.6.1.4. Những thuận lợi và khó khăn của giáo viên trong việc lựa chọn nguyên vật liệu tời

2.6.2. Đánh giá việc sử dụng nguyên vật liệu rời trong hoạt động chắp ghép nhằm phát trién kha nang sáng tạo cho trẻ 5 -6 tuôi

2.6.2.1. Tiêu chí đánh giá về kha năng chip ghép của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động tạo rời
2.6.2.2. Thue trạng biểu hiện của trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động chip ghép với NGUYÊN Vật. HỆ TỜI

2.7. lon churong

3. CHƯƠNG 3: ĐÈ XUẤT VÀ KHẢO NGHIỆM CÁCH LỰA CHỌN VÀ SỬ DỤNG VẬT LIEU ROI TRONG HOAT DONG CHAP GHÉP NHAM PHAT TRIÊN KHẢ NANG SANG TAO CHO TRE 5 -6 TUỔI

3.1. Đề xuất nguyên vật liệu nên sử dụng, nguyên tắc lựa chọn và nội dung đạy học trong hoạt động chap ghép nhằm phát trién khả năng sáng tạo cho trẻ 5-6 tuôi

3.1.1. Những nguyên tắc lựa chọn nguyên vật liệu rời trong hoạt động chap ghép nhăm phát trién kha năng sang tạo cho tré Š- 6 tuôi

3.1.2. Đè xuất những nguyên vật liệu rời nên sử dụng trong hoạt động chắp ghép nham phát triên kha năng sang tạo cho trẻ 5-6 tuôi

3.1.3. Nội dung dạy hoc trong hoạt động chap ghép nhằm phát triển kha năng sáng tạo cho Ge B= ON

3.1.4. Hoạt động tạo hình Trang trí mũ cdi từ vỏ sò, ngáo, OC, hến

3.1.5. Hoạt động tạo hình động vật từ rau, cú, quả, hạt

3.1.6. Hoạt dong tạo hình tranh con vật yêu thích từ vụn kẹo cứng

3.1.7. Hoạt động tạo hình nông trại vui vẻ với các loại hat ngũ DU

3.1.8. Hoạt động tao hình kham hình học từ kẹo cao su và mì ong

3.1.9. Hoạt động tao hình sâu bướm từ nút ban và bìa Cartong

3.1.10. Hoạt động tạo hình từ các loại định gai, ỐC VÍT

3.1.11. Hoạt dong tạo hình các nhân vật yêu thích từ đĩa CD

3.1.12. Hoạt động tao hình bãi biển từ các LOGE VAE VÀ SỞÏ

3.1.13. Hoạt động tạo hình chuông gió từ các loại hot hạt và cành cây

3.2. Tổ chức khảo nghiệm

3.2.1. Mfo:lfGh(KH“OHGHIỆM

3.2.2. Nội dung kháo nghiệm 3 hoạt đỘN

3.2.3. Phương pPHáPKHñönghiểm

3.2.4. Kết quả khảo nghiệm

3.2.4.1. Trên Ban Giám H IỆU
3.2.4.2. FAD) TIÊN: GIÁO (VIÊẨN

3.3. Kết luận chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC VIET TAT

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn dé tài

Tóm tắt

I. Giải mã vật liệu rời Chìa khóa phát triển sáng tạo

Vật liệu rời (Loose Parts) là thuật ngữ do kiến trúc sư Simon Nicholson khởi xướng, dùng để chỉ các vật liệu có kết cấu mở, có thể di chuyển, thay đổi, kết hợp và tháo dỡ theo vô số cách khác nhau. Khác với đồ chơi có cấu trúc cố định, vật liệu rời không có hướng dẫn cụ thể, cho phép trẻ tự do quyết định mục đích và cách thức sử dụng. Điều này tạo ra một sân chơi vô hạn cho trí tưởng tượng của trẻ, biến những vật dụng đơn giản thành công cụ mạnh mẽ để phát triển sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi. Lý thuyết này nhấn mạnh rằng môi trường càng đa dạng và linh hoạt, tiềm năng sáng tạo của con người càng được khai phóng. Trong bối cảnh giáo dục mầm non, việc áp dụng vật liệu rời không chỉ là một phương pháp mà còn là một triết lý, tin rằng mỗi đứa trẻ đều là một nhà kiến tạo chủ động trong quá trình học tập của chính mình. Các nghiên cứu, điển hình là của Haughey & Hill (2017), đã phân loại vật liệu rời thành nhiều nhóm như vật liệu thiên nhiên (cành cây, sỏi, lá khô), vật liệu tái chế (lõi giấy, nắp chai, thùng carton), kim loại, vải vóc... Sự phong phú này mang đến trải nghiệm đa giác quan, giúp trẻ xây dựng hiểu biết sâu sắc về thế giới vật chất. Thay vì đưa ra câu trả lời có sẵn, vật liệu rời đặt ra những câu hỏi mở, thúc đẩy trẻ tự tìm tòi, thử nghiệm và hình thành kỹ năng giải quyết vấn đề. Đây là nền tảng của giáo dục STEAM, nơi các yếu tố khoa học, công nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật và toán học được lồng ghép một cách tự nhiên thông qua quá trình chơi và kiến tạo.

1.1. Khái niệm Vật liệu rời và bản chất của sáng tạo

Theo Simon Nicholson, bản chất của sáng tạo nằm ở khả năng kết nối và tái sắp xếp các yếu tố trong môi trường. Vật liệu rời là những thành phần có thể thay đổi, mang đi, kết hợp, thiết kế lại và tháo rời. Chúng không đi kèm với một bộ quy tắc nào, do đó, trẻ trở thành người kiến tạo nên luật chơi và ý nghĩa của chúng. Đây chính là cốt lõi của việc học thông qua chơi. Khi một đứa trẻ cầm một cành cây, nó có thể là một cây đũa phép, một cây cầu, hay một phần của bức tranh. Sự biến đổi vô hạn này nuôi dưỡng tư duy sáng tạo và khả năng nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ. Khác với đồ chơi truyền thống thường chỉ có một chức năng, vật liệu rời mở ra hàng trăm khả năng, phù hợp với triết lý của Loris Malaguzzi về “một trăm ngôn ngữ của trẻ em”. Sáng tạo ở đây không phải là tạo ra cái gì đó vĩ đại, mà là quá trình tư duy, thử nghiệm và biểu đạt ý tưởng riêng theo cách độc đáo. Vật liệu rời chính là phương tiện vật chất để trẻ hiện thực hóa quá trình tư duy đó.

1.2. Mối liên hệ với phương pháp Reggio Emilia và STEAM

Vật liệu rời là một thành tố không thể thiếu trong phương pháp Reggio Emilia, nơi môi trường được xem là “người thầy thứ ba”. Môi trường học tập được thiết kế thẩm mỹ với các góc chơi sáng tạo, trưng bày các vật liệu hấp dẫn để mời gọi trẻ khám phá. Triết lý này tin rằng trẻ em có khả năng tự xây dựng kiến thức thông qua tương tác với môi trường. Tương tự, giáo dục STEAM cũng đề cao việc học tập dựa trên dự án và giải quyết vấn đề thực tế. Vật liệu rời cung cấp công cụ hoàn hảo cho các dự án STEAM. Trẻ có thể dùng que gỗ và dây chun để học về kỹ thuật (Engineering), dùng sỏi và lá cây để tạo ra các tác phẩm nghệ thuật (Art), hay phân loại nắp chai để học toán (Math). Quá trình này giúp trẻ phát triển toàn diện các kỹ năng cần thiết cho thế kỷ 21, bao gồm tư duy phản biện, hợp tác và sáng tạo.

II. Thực trạng sử dụng vật liệu rời để phát triển sáng tạo

Mặc dù lợi ích của vật liệu rời đã được công nhận rộng rãi trên thế giới, việc áp dụng tại các trường mầm non ở Việt Nam vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Nghiên cứu thực trạng chỉ ra rằng nhiều giáo viên còn hạn chế trong nhận thức về tầm quan trọng và cách thức triển khai hiệu quả. Một bộ phận giáo viên vẫn ưu tiên các giáo cụ có sẵn, được sản xuất hàng loạt vì tính tiện lợi và dễ quản lý. Việc sử dụng vật liệu rời, đặc biệt là vật liệu tái chếvật liệu thiên nhiên, đòi hỏi sự đầu tư về thời gian sưu tầm, xử lý và sắp xếp, đây là một rào cản lớn trong bối cảnh chương trình học dày đặc. Hơn nữa, các hoạt động thường mang tính khuôn mẫu, sao chép theo sản phẩm gợi ý của giáo viên thay vì khuyến khích trẻ tự do khám phá. Các giờ học hoạt động tạo hình đôi khi vẫn đi theo lối mòn gồm ba bước: gây hứng thú, quan sát mẫu, và thực hiện theo, làm giảm đi tính mở và cơ hội để trẻ bộc lộ dấu ấn cá nhân. Sự thiếu đa dạng trong vật liệu (về màu sắc, kích cỡ, chất liệu) cũng là một hạn chế, khiến các sản phẩm của trẻ chưa thực sự mới lạ và hấp dẫn. Những khó khăn này cho thấy cần có một sự thay đổi trong cả tư duy lẫn phương pháp tổ chức để có thể khai thác tối đa tiềm năng phát triển sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi qua vật liệu rời.

2.1. Hạn chế trong nhận thức và lựa chọn vật liệu của giáo viên

Khảo sát cho thấy nhận thức của giáo viên về vai trò của vật liệu rời ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sáng tạo của trẻ. Nhiều giáo viên chưa thực sự hiểu rõ bản chất của “tính mở” trong vật liệu. Họ có xu hướng cung cấp các vật liệu đã được cắt sẵn với kích thước đồng đều, hoặc trộn lẫn tất cả vào một khay chứa, làm mất đi cơ hội để trẻ tự phân loại, so sánh và lựa chọn. Sự an toàn cũng là một mối bận tâm lớn, khiến giáo viên e ngại sử dụng các vật liệu đa dạng như ốc vít, cành cây khô hay mảnh gốm. Thay vào đó, họ ưu tiên các vật liệu nhựa, giấy công nghiệp. Điều này vô hình trung làm nghèo nàn trải nghiệm cảm quan và hạn chế khả năng khám phá của trẻ. Việc thiếu các tiêu chí rõ ràng trong việc lựa chọn và sử dụng vật liệu cũng là một vấn đề, dẫn đến việc các góc nghệ thuật mầm non thiếu đi sự hấp dẫn và tính mời gọi cần thiết.

2.2. Khó khăn khi tổ chức hoạt động tạo hình sáng tạo

Tổ chức một hoạt động tạo hình thực sự sáng tạo với vật liệu rời đòi hỏi giáo viên phải đóng vai trò là người hỗ trợ, người đặt câu hỏi gợi mở thay vì người hướng dẫn trực tiếp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều giáo viên vẫn áp dụng phương pháp “cầm tay chỉ việc”. Các sản phẩm của trẻ thường là bản sao từ mẫu của cô, thiếu đi dấu ấn cá nhân. Ví dụ, để tạo một bãi biển, giáo viên thường chỉ định trẻ dùng giấy màu xanh và vỏ sò, thay vì đưa ra một khay vật liệu đa dạng (cát, sỏi màu, kim tuyến, vải voan...) và để trẻ tự do kiến tạo theo trí tưởng tượng. Áp lực về thời gian và việc phải hoàn thành sản phẩm cuối buổi học cũng khiến các hoạt động mang tính hình thức, không đủ không gian và thời gian cho trẻ thực sự đắm mình vào quá trình khám phá và thử nghiệm – vốn là linh hồn của việc học với vật liệu rời.

III. 5 Nguyên tắc vàng chọn vật liệu rời kích thích sáng tạo

Để việc sử dụng vật liệu rời thực sự hiệu quả trong việc phát triển sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi, việc lựa chọn và bày trí vật liệu cần tuân thủ các nguyên tắc khoa học. Đây không chỉ là việc thu thập các đồ vật ngẫu nhiên, mà là một quá trình có chủ đích nhằm khơi gợi sự tò mò và thúc đẩy tư duy. Nguyên tắc cốt lõi là đảm bảo tính mở và đa dạng. Vật liệu cần có khả năng được sử dụng theo nhiều cách, không giới hạn trong một chức năng duy nhất. Sự đa dạng về chất liệu (gỗ, kim loại, vải, nhựa), kích thước, hình dạng và màu sắc sẽ mang lại trải nghiệm phong phú cho các giác quan, từ đó kích thích não bộ hình thành các liên kết mới. An toàn là yếu tố tiên quyết, đặc biệt với các vật liệu tái chế và thiên nhiên. Tất cả cần được làm sạch, xử lý các cạnh sắc nhọn và đảm bảo không độc hại. Tính thẩm mỹ trong cách sắp xếp cũng đóng vai trò quan trọng. Thay vì đổ dồn vào một thùng, các vật liệu nên được phân loại và bày trí gọn gàng trên kệ, trong các khay gỗ hoặc giỏ mây, tạo ra một không gian mời gọi, kích thích trẻ tự nguyện tham gia khám phá. Cuối cùng, việc lựa chọn vật liệu cần gắn liền với hứng thú và trải nghiệm của trẻ, đồng thời thường xuyên được thay đổi, bổ sung để duy trì sự mới mẻ và hấp dẫn.

3.1. Đảm bảo tính mở và sự đa dạng của vật liệu thiên nhiên

Nguyên tắc đầu tiên là cung cấp các vật liệu không có định hướng cụ thể. Một khối gỗ có thể là một chiếc ô tô, một viên gạch xây nhà hay một chiếc điện thoại. Chính sự mơ hồ này buộc trẻ phải vận dụng trí tưởng tượng của trẻ để gán cho nó một ý nghĩa. Bên cạnh đó, cần sưu tầm đa dạng các loại vật liệu, đặc biệt là vật liệu thiên nhiên như cành cây khô, vỏ sò, đá cuội, các loại hạt. Mỗi vật liệu mang một kết cấu, trọng lượng và mùi hương khác nhau, giúp phát triển nhận thức qua các giác quan. Sự đa dạng này cho phép trẻ so sánh, phân loại và tìm ra các cách kết hợp độc đáo, là tiền đề cho những phát kiến sáng tạo.

3.2. Ưu tiên vật liệu tái chế an toàn và dễ dàng thao tác

Vật liệu tái chế như lõi giấy, nắp chai, hộp carton, đĩa CD cũ là nguồn tài nguyên vô tận và miễn phí. Tuy nhiên, nguyên tắc an toàn phải được đặt lên hàng đầu. Cần loại bỏ các vật sắc nhọn, vệ sinh sạch sẽ và đảm bảo chúng phù hợp với lứa tuổi. Vật liệu nên dễ dàng cho trẻ thao tác: cắt, dán, xâu chuỗi, lắp ghép. Ví dụ, lõi giấy vệ sinh có thể dễ dàng biến thành ống nhòm, thân cây hay một nhân vật ngộ nghĩnh. Việc tận dụng đồ tái chế không chỉ giúp phát triển sáng tạo mà còn giáo dục trẻ về ý thức bảo vệ môi trường, biến những thứ bỏ đi thành những đồ chơi tự làm đầy ý nghĩa.

IV. Hướng dẫn 10 hoạt động với vật liệu rời cho trẻ 5 6 tuổi

Từ những nguyên tắc trên, giáo viên và phụ huynh có thể tổ chức vô số hoạt động hấp dẫn để phát triển sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi. Các hoạt động này nên tập trung vào quá trình hơn là sản phẩm cuối cùng, khuyến khích sự thử nghiệm và chấp nhận cả những ý tưởng “kỳ quặc”. Một trong những hoạt động phổ biến là xây dựng và kiến tạo. Cung cấp cho trẻ một bộ sưu tập gồm các khối gỗ, ống giấy, hộp carton, nắp chai và để trẻ tự do xây dựng thành phố, lâu đài hay một con tàu vũ trụ. Hoạt động này không chỉ rèn luyện kỹ năng vận động tinh mà còn phát triển tư duy không gian và khả năng lập kế hoạch. Một hướng khác là tạo hình nghệ thuật. Sử dụng vật liệu thiên nhiên như lá cây, hoa khô, sỏi màu để tạo nên các bức tranh mandala hoặc chân dung. Hoạt động này giúp trẻ cảm nhận vẻ đẹp của tự nhiên và rèn luyện tính kiên nhẫn. Ngoài ra, vật liệu rời còn có thể được dùng để kể chuyện. Trẻ có thể chọn các vật dụng nhỏ (cúc áo, vỏ sò, mảnh gỗ) để đại diện cho các nhân vật và dựng nên một câu chuyện của riêng mình. Điều này thúc đẩy khả năng ngôn ngữ, tư duy tường thuật và biểu đạt cảm xúc. Việc thiết kế các góc chơi sáng tạo với đầy đủ vật liệu sẽ là môi trường lý tưởng để những hoạt động này diễn ra một cách tự nhiên và thường xuyên.

4.1. Hoạt động tạo hình từ vật liệu thiên nhiên lá cây sỏi

Đây là hoạt động giúp trẻ kết nối với thiên nhiên. Hãy cùng trẻ thu thập lá cây, cành khô, hoa, sỏi, vỏ ốc. Sau đó, cung cấp một mặt phẳng (bìa carton, khay cát) và để trẻ tự do sắp xếp, tạo thành các hình ảnh như con vật, phong cảnh, hoặc các hoa văn trừu tượng. Hoạt động này không cần keo dán, cho phép trẻ thay đổi, chỉnh sửa tác phẩm của mình liên tục. Nó giúp trẻ rèn luyện khả năng quan sát chi tiết, cảm nhận sự đa dạng về hình dạng, màu sắc, kết cấu của tự nhiên và phát triển kỹ năng vận động tinh khi sắp xếp các vật nhỏ.

4.2. Xây dựng và sáng tạo đồ chơi tự làm từ đồ tái chế

Hoạt động này biến những vật liệu phế thải thành những sản phẩm hữu ích. Từ thùng carton, trẻ có thể làm nhà búp bê, ô tô, hoặc một con robot. Từ chai nhựa và nắp chai, trẻ có thể lắp ghép thành máy bay, thuyền bè. Quá trình này khuyến khích kỹ năng giải quyết vấn đề: làm thế nào để bánh xe quay được, làm sao để cánh máy bay không bị rơi? Đây là một hình thức học tập của giáo dục STEAM rất thực tế, giúp trẻ hiểu về cấu trúc, sự cân bằng và chức năng của đồ vật, đồng thời mang lại niềm vui khi tạo ra những món đồ chơi tự làm độc nhất.

V. Lợi ích toàn diện của việc phát triển sáng tạo qua vật liệu rời

Việc cho trẻ 5-6 tuổi tiếp xúc thường xuyên với vật liệu rời mang lại những lợi ích phát triển toàn diện, vượt xa mục tiêu đơn thuần là tạo ra các sản phẩm đẹp mắt. Về mặt nhận thức, quá trình này kích thích tư duy phản biệnkỹ năng giải quyết vấn đề. Khi đối mặt với một bộ sưu tập vật liệu không có hướng dẫn, trẻ phải tự đặt câu hỏi: “Mình có thể làm gì với những thứ này?”, “Làm thế nào để chúng kết nối với nhau?”. Đây là những bài tập tư duy quý giá. Về mặt thể chất, việc cầm, nắm, sắp xếp, xâu chuỗi các vật liệu có kích thước khác nhau giúp hoàn thiện kỹ năng vận động tinh, sự phối hợp tay-mắt và khả năng điều khiển cơ thể. Về mặt cảm xúc - xã hội, khi hoạt động theo nhóm, trẻ học cách thương lượng, chia sẻ ý tưởng, hợp tác để xây dựng một công trình chung. Chúng học cách tôn trọng ý kiến của người khác và giải quyết xung đột một cách hòa bình. Hơn nữa, việc được tự do thể hiện ý tưởng và tạo ra sản phẩm của riêng mình giúp xây dựng sự tự tin, lòng tự trọng và nuôi dưỡng trí tưởng tượng của trẻ. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng những đứa trẻ được khuyến khích chơi tự do với vật liệu rời thường có khả năng thích ứng tốt hơn, linh hoạt hơn trong tư duy và có xu hướng trở thành những người học tập suốt đời.

5.1. Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề và tư duy phản biện

Khi một công trình do trẻ xây dựng bị đổ, trẻ không bỏ cuộc. Thay vào đó, chúng học cách phân tích nguyên nhân: có phải do nền móng không vững, hay do khối trên quá nặng? Trẻ sẽ thử lại với một cách tiếp cận khác. Quá trình thử-và-sai này chính là bản chất của kỹ năng giải quyết vấn đề. Vật liệu rời tạo ra một môi trường an toàn để thất bại và học hỏi từ thất bại đó. Đồng thời, trẻ cũng phát triển tư duy phản biện khi phải đánh giá và lựa chọn vật liệu phù hợp nhất cho ý tưởng của mình, ví dụ như chọn một mảnh vải mềm để làm cánh buồm thay vì một miếng gỗ cứng.

5.2. Phát triển kỹ năng vận động tinh và khả năng nhận thức

Thao tác với các vật nhỏ như cúc áo, hạt, sỏi đòi hỏi sự khéo léo của các ngón tay, giúp củng cố các cơ nhỏ và hoàn thiện kỹ năng vận động tinh. Đây là kỹ năng nền tảng cho việc cầm bút và viết sau này. Bên cạnh đó, việc phân loại, sắp xếp vật liệu theo màu sắc, hình dạng, kích thước hay chất liệu là những bài tập tuyệt vời để phát triển nhận thức. Trẻ học các khái niệm toán học sơ khai (nhiều hơn, ít hơn, dài hơn, ngắn hơn) và khoa học (đặc tính vật liệu: cứng, mềm, nhẵn, ráp) một cách tự nhiên và đầy hứng thú thông qua các hoạt động chơi.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Nghiên cứu cơ sở lí luận Chương 2: Khảo sát thực trạng. Chương 3: Thiết kế và khảo nghiệm. Tài liệu tham khảo E. NOI DUNG NGHIÊN CỨU CHUONG 1: NGHIEN CUU CO SO LI LUAN 1.1 Lịch sử nghiên cứu về sáng tạo và phát triển kha năng sáng tao cho trẻ thông qua hoạt động tạo hình 1.1 Những nghiên cứu trên thế giới + Những nghiên cứu về kha năng sáng tạo Trước đây khi nói đến sáng tạo là người ta thường đẻ cập tới những thiên tài trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật như: Wolfgang Amadcus Mozart, Albert Einstein, Lev Nikolayevich Tolstoy, Isaac Newton, Leonardo da Vinci ., vì vậy vấn dé bản chất và quy luật của hoạt động sáng tạo chưa được đi sâu nghiên cứu trên cơ sở các hôi ký, tiêu sử, các tác pham văn học mang khả nang tự thuật của các danh nhân, do vậy, cũng mới chỉ được mô tả, giải thích sơ bộ.

Giữa the kỷ XIX, với những nghiên cứu đầu tiên và có ý nghĩa lớn về sáng tao, các nhà xã hội học đã cho rằng, bản chất của khả năng tích cực sáng tạo là hoạt động tưởng tượng. Quan điềm nay gan với quan điềm của các nha tâm lý học ngảy nay. Sang thế kỷ XX, đây là một thời điểm có tính chất bước ngoặt trong lịch sử phát triển nhân loại, cùng với những tiễn bộ vượt bậc trong các lĩnh vực khoa học, nhiều ngành khoa học ra đời, nhiều thành tựu khoa học được công bé và lĩnh vực sáng tạo cũng bắt đầu được quan tâm nghiên cứu. Như một tat yếu, quốc gia nào càng có nên khoa học kỹ thuật phát triển cao bao nhiêu thì cảng tập trung nghiên cứu về lĩnh vực sáng tao bấy nhiêu.

Khi nói đến lĩnh vực sáng tạo, chúng ta không thẻ không kẻ đến các nghiên cứu của nước Mỹ - một quốc gia có nền khoa học kỹ thuật phát trién cao nhất thé giới. Các nha nghiên cứu ở đây có những điều kiện thuận lợi về mặt cơ sở vật chất đề tiến hành nghiên cứu, vì vậy, cũng như nhiều lĩnh vực khoa học khác, việc nghiên cứu sáng tạo có cường độ mạnh nhất là ở Mỹ. Vào dau những năm 1920, công trình nghiên cứu về sáng tạo của Lewis Terman trên những học sinh giỏi có chỉ số IQ từ 140 trở lên đã được các nhà khoa học học đánh giá cao. Sau đỏ, ông còn tiếp tục nhiều công trình nghiên cứu khác cũng vẻ lĩnh vực sáng 15 tạo, rút ra nhiều kết luận về các van đề chung của sáng tạo như: môi trưởng sáng tạo, vấn dé nhân cách sáng tao, sản phẩm sáng tạo.

Van dé sáng tạo thực chat chỉ được nghiên cứu có hệ thống từ những năm 50 của thé ky XX ma người có công lớn nhất là J.Guilfort - nguyên là giáo sư của một trường dai học tông hợp ở Miền nam California, được dé cử là Chủ tịch hội Tâm lý học Mỹ năm 1950. Trong bai phát biểu tại budi lễ nhậm chức, ông đã dành rất nhiều thời gian dé nói về van dé sang tạo. Ông cũng khuyến khích các nha tâm lý học tham gia nghiên cứu hoạt động sáng tạo. Từ đó van đề sáng tạo được đầu tư và cũng đạt được nhiều thành tựu đáng kê.

Một số các công trình nghiên cứu về sáng tạo đã được xuất bản như: May (1961), Mackinon (1962), Yamamoto (1963), P. Nhiều công trình nghiên cứu trong thời gian này đã được xuất bản nội dung dé cập tới những van dé cơ bản của hoạt động sáng tao, các thuộc kha nang của nhân cách sang tạo, bản chất, quy luật của hoạt động sáng tạo, các giai đoạn của quá trình sáng tạo, vấn đề kích thích nang lực sáng tao. Ngoài ra còn có nhiều tác giả khác ở Mỹ cũng nghiên cứu vấn đề sáng tạo như: Barron, Bloom, Helmholtz, Wallass. Vượt ra khỏi nước Mỹ, các nhà khoa học Liên Xô (cũ) đã có nhiều công nghiên cứu về sáng tạo, đóng góp cho xã hội, nôi bật như: G.

Họ cũng đã tô chức cuộc hội nghị, hội thảo về sáng tạo vào những năm 1960 -1980 tại Matxcova, Praha, Budapest Từ những năm 60 - 70 của thập kỷ 20 trở đi, không chỉ ở Mỹ, Liên xô mà Tây Âu đặc biệt ở Đức. do nhận ra ý nghĩa phát triển kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật cũng như ¥ nghĩa phát triển cá nhân của sáng tạo mà vẫn đẻ sáng tạo đưới góc nhìn mới của Tâm lý học, Giáo dục học và Xã hội học đã được quan tâm nghiên cứu thích đáng. s* Lịch sử nghiên cứu về khả năng sáng tạo của trẻ S- 6 tuôi trong hoạt động tạo hình trên thế giới Việc nghiên cứu về hoạt động tạo hình của trẻ, đặc biệt là hoạt động vẽ có lịch sử khá phức tap va có sự khác nhau giữa các trường phái. l6 Các nhà Tâm lí học ưu sinh như: G.cho rằng hoạt động tạo hình của trẻ chính 1a qua trình tự phát của các khả nang bam sinh, là sự kế thừa một ‘ os +h = ‘ *.

x: X cách tự nhiên những tiêm năng sẵn có của cả loài người. Di sâu vào việc nghiên cứu hoạt động vẽ của trẻ em, các nhà Tâm lí học cấu trúc cho rằng “Tré vẽ những gì nó nhìn thấy”. Ho khang định rang tri giác trọn vẹn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các tác phẩm nghệ thuật. Chính vì vậy, họ đã đánh giá thấp hoạt động lao động sáng tao, đặc biệt hoạt động sang tạo nghệ thuật vốn rất có y thức của con người.

Đối với các nhà Phân tâm học, khi ly giải về bản chất tranh vẽ của trẻ, ho khang định rang “Đứa trẻ vẽ những gì nó cảm thấy”. Cái “cảm thay” chính là nhu cầu ban năng vô thức. Họ đã sinh vật hóa tâm lí con người, làm con người mat đi khả năng chủ thé, kha năng tích cực hoạt động và sáng tạo trong hoạt động vẽ. Có thé thay, khi nhìn nhận về hoạt động tạo hình của trẻ, các trường phải của Tâm lí học nêu trên chỉ dừng lại ở sự phát triển tự nhiên của trẻ ma không thừa nhận rằng hoạt động tạo hình của trẻ là kết quả hoạt động tích cực của chính bản thân trẻ trên cơ sở sự lĩnh hội vả vận dụng sáng tạo các kinh nghiệm xã hội, thực tiền.

Phải đến những năm đầu của thé ky XX, khi mà khoa học sáng tạo bắt đầu phát triển. Các nhà Tâm lí học bắt đầu nghiên cứu sâu hơn về tâm lí trẻ em thì hoạt động tạo hình cũng như khả năng sáng tạo của trẻ được dao sâu nghiên cứu. Đặc biệt là mối quan hệ giữa các yếu to tâm lí: tư duy, tưởng tượng, trí nhớ,. đến kha năng sáng tạo của trẻ trong các hoạt déng.

Có thể kế đến các tác giả như: L.Họ nhân mạnh rằng chính những yếu tổ như: trò chơi, vẽ tranh, kể chuyén,. kích thích làm cho hoạt động sang tạo của trẻ phát trién. Từ năm 1887, việc tim hiểu hình vẽ của trẻ em, đặc biệt là hình vẽ người và gia đình đã được nghiên cứu bởi Corrado Ricci — một nha phê bình hội họa. Sau đó là các công trình nghiên cứu của: Kerchensteiner (1905), Levinstein (1905), Katzaroff (1909-1910) và Luquet (1913).

Các nhà nghiên cứu ding hình vẽ người để đo trình độ phát triển hoặc mức thành thục về trí khôn của trẻ. 17 Năm 1926, nhà tâm lý Goodenough đã cho ra bản trắc nghiệm đầu tiên, đánh giá một cách có hệ thông hình vẽ của trẻ em bang phương pháp cham điểm. Sau này được Harris chỉnh lí và mở rộng gọi là Test Goodenough ~ Harris (1963). Các nhà tâm lý Buck, Koppitz cũng dựa vào hình vẽ người dé xác định chi số IQ của trẻ 5-11 tuổi, Khoảng giữa the ky XX, Guilford và Torrance trên cơ sở nghiên cứu về khả năng sáng tạo của trẻ trong các hoạt động , đã cho ra đời bộ trắc nghiệm đánh giá mức độ sáng tạo ngôn ngữ và sáng tạo phi ngôn ngữ, sáng tạo hình ảnh.

Về sau, bộ trắc nghiệm này được ứng dụng rat nhiều vào các công trình nghiên cứu ve sáng tạo. Năm 1994, trắc nghiệm sáng tạo TSD- Z cua tác giả người Đức Klaus K. Urban ra đời. Đây là dạng trắc nghiệm phi ngôn ngữ (vẽ tranh), phản ánh các cấu trúc sáng tạo, được thiết cho cả trẻ em vả người lớn.

Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu khác của L.Vưgootxki như: “Tif tưởng tưởng sáng tạo ở lứa tuổi thiểu nhỉ”; “Tâm lí học nghệ thuật"; “Sự phái triển của các chức năng tâm li cấp cao”. Khi nghiên cửu về sang tạo ở trẻ em ông đã chỉ ra vai trò của hứng thú đối với việc hình thành và phát huy khả năng sáng tạo của trẻ trong hoạt động tạo hình vả ông đặc biệt nhắn mạnh nguyên tắc tu do trong hoạt động nghệ thuật.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam + Những nghiên cứu về kha năng sáng tao Bên cạnh sự phát triển, nghiên cứu vẻ van dé sang tạo của các nước trên thé giới thi ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến hoạt động sáng tạo và các tài năng sáng tạo. Nhiều hoạt động thé hiện sự chăm lo, bồi dưỡng, khuyến khích những tai năng sáng tạo được tô chức hàng năm: Hội thi sang chế kỳ thuật, tô chức hỗ trợ sáng tạo khoa học vả công nghệ Việt Nam thuộc Viện Khoa học Việt Nam va Trung tâm sang chế khoa học kỹ thuật thuộc Đại học Quốc Gia TP.HCM và nhiều hội thi tài năng được tô chức trong các trưởng học. Năm 1990, Viện khoa học giáo dục thuộc Bộ giáo dục và đảo tạo là cơ quan khoa học đầu tiên ở Việt Nam tiễn hành nghiên cứu về “kha năng sáng tao” của học sinh.

Các công trình nghiên cứu nay quan tâm tới bản chất, cau trúc tâm lý của sáng tạo, phương 18 pháp chan đoán, đánh giá khả năng sáng tao và con đường giáo dục, phát huy khả năng sáng tạo của người Việt Nam. Mãi cho đến nay, chúng ta cũng đã có một số công trình nghiên cứu của các Tiến sĩ, Thạc sĩ đóng góp cho hoạt động sáng tạo như: « Luan án Tiên si của Lê Thanh Thủy nghiên cứu “Anh hưởng của tri giác tới tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động vẽ của trẻ Š - 6 tuổi".

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ