Khảo sát tình hình đề kháng kháng sinh của vi khuẩn tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 (2004-2008)

Luận văn khảo sát tình hình đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 giai đoạn 2004-2008, kèm số liệu phân tích.

Trường đại học

Trường Đại học Mở TP. HCM

Chuyên ngành

Vi Sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2009

109
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đề kháng kháng sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1

Đề kháng kháng sinh là vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng ảnh hưởng đến kết quả điều trị nhiễm trùng ở trẻ em. Tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, giai đoạn 2004-2008 là thời kỳ quan trọng để theo dõi và đánh giá tình hình kháng thuốc kháng sinh của các tác nhân vi khuẩn gây bệnh. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát đặc điểm đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn phân lập từ các mẫu bệnh phẩm khác nhau như máu, dịch phế quản, nước tiểu, phân và dịch cơ thể. Công tác theo dõi kháng sinh đồ theo phương pháp Kirby-Bauer giúp cung cấp thông tin quan trọng cho việc lựa chọn thuốc kháng sinh phù hợp trong điều trị lâm sàng. Kết quả nghiên cứu này có giá trị thực tiễn cao trong hướng dẫn sử dụng kháng sinh và phòng chống nhiễm trùng bệnh viện.

1.1. Định nghĩa và tầm quan trọng đề kháng kháng sinh

Đề kháng kháng sinh là khả năng của vi khuẩn chống lại tác động của thuốc kháng sinh. Hiện tượng này xảy ra do các cơ chế như biến đổi gen, trao đổi vật chất di truyền giữa các chủng vi khuẩn. Tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, việc theo dõi khuynh hướng đề kháng kháng sinh trong giai đoạn 2004-2008 là cơ sở để xây dựng chiến lược sử dụng kháng sinh hợp lý, giảm tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện và cải thiện kết quả điều trị bệnh nhân nhi.

1.2. Các vi khuẩn thường gặp trong nghiên cứu

Nghiên cứu giai đoạn 2004-2008 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 xác định các nhóm vi khuẩn chính gây bệnh bao gồm trực khuẩn Gram âm (Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae, Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter baumannii) và cầu khuẩn Gram dương (Staphylococcus aureus, Streptococcus pneumoniae). Mỗi loài vi khuẩn này có đặc điểm đề kháng kháng sinh khác nhau, đòi hỏi theo dõi và quản lý riêng.

II. Phương pháp nghiên cứu đề kháng kháng sinh giai đoạn 2004 2008

Nghiên cứu đề kháng kháng sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 2004-2008 sử dụng phương pháp khoa học nghiêm ngặt để đánh giá kháng sinh đồ của các vi khuẩn phân lập. Mẫu bệnh phẩm được thu thập từ các khoa khác nhau bao gồm khoa Nội, Ngoại, Tích nhiễm và các khoa khác. Tất cả các mẫu đều được xét nghiệm vi sinh tại khối Vi Sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1 theo quy trình tiêu chuẩn. Kháng sinh đồ được thực hiện theo phương pháp Kirby-Bauer trên môi trường Mueller Hinton Agar, với các thuốc kháng sinh tiêu chuẩn phù hợp với từng nhóm vi khuẩn. Dữ liệu được xử lý thống kê để xác định tỷ lệ đề khángkhuynh hướng kháng thuốc của các chủng vi khuẩn trong suốt giai đoạn nghiên cứu.

2.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng

Đây là nghiên cứu mô tả theo dõi dài hạn, tập trung vào các vi khuẩn gây bệnh phân lập tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Đối tượng nghiên cứu bao gồm tất cả các mẫu bệnh phẩm từ trẻ em nhập viện có kết quả cấy dương tính. Giai đoạn khảo sát kéo dài 5 năm (10/2003 – 10/2008), với tập trung vào 10 tháng đầu năm 2008 để cập nhật tình hình đề kháng kháng sinh mới nhất.

2.2. Phương pháp định danh vi khuẩn và kháng sinh đồ

Định danh vi khuẩn được tiến hành sử dụng các test sinh hóa và hệ thống định danh tiêu chuẩn. Kháng sinh đồ được thực hiện theo phương pháp Kirby-Bauer với đĩa kháng sinh tiêu chuẩn, đo đường kính vòng ức chế và so sánh với tiêu chuẩn NCCLS để phân loại vi khuẩn thành nhạy cảm, trung gian hoặc kháng đối với từng kháng sinh.

III. Kết quả đề kháng kháng sinh và các vi khuẩn chính

Kết quả nghiên cứu đề kháng kháng sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 giai đoạn 2004-2008 cho thấy những xu hướng đáng lo ngại trong kháng thuốc kháng sinh. Staphylococcus aureus thể hiện tỷ lệ đề kháng cao đối với Penicillin và Methicillin-resistant Staphylococcus aureus (MRSA) được phát hiện với tỷ lệ gia tăng. Escherichia coliKlebsiella pneumoniae cho thấy kháng kháng sinh tương đối cao đối với Ampicillin nhưng nhạy với các kháng sinh thế hệ mới. Pseudomonas aeruginosaAcinetobacter baumannii thể hiện đặc điểm kháng đa kháng sinh nghiêm trọng. Các khuynh hướng đề kháng kháng sinh này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi liên tục tình hình kháng thuốc để điều chỉnh chiến lược sử dụng kháng sinh phù hợp.

3.1. Tỷ lệ đề kháng của các vi khuẩn Gram dương

Staphylococcus aureus phân lập từ các mẫu bệnh phẩm tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 cho thấy tỷ lệ đề kháng cao với Penicillin, erreaching tỷ lệ kháng đáng kể. MRSA được phát hiện với tỷ lệ gia tăng qua các năm. Streptococcus pneumoniae còn nhạy cảm tương đối với Penicillin nhưng có xu hướng tăng kháng thuốc từ từ. Những kết quả này yêu cầu thay đổi lựa chọn kháng sinh trong điều trị thực tiễn.

3.2. Đặc điểm kháng kháng sinh của vi khuẩn Gram âm

Escherichia coliKlebsiella pneumoniae thường kháng Ampicillin nhưng nhạy với Cephalosporin thế hệ hai, ba và Fluoroquinolone. Pseudomonas aeruginosa thể hiện đề kháng đa kháng sinh cao, nhạy chủ yếu với Piperacillin/TazobactamCeftazidime. Acinetobacter baumannii là mối quan tâm lớn với kháng kháng sinh rộng rãi, thường chỉ nhạy với CarbapenemColistin, đòi hỏi sử dụng các thuốc kháng sinh cuối cùng trong điều trị.

IV. Ý nghĩa lâm sàng và khuyến cáo sử dụng kháng sinh

Kết quả nghiên cứu đề kháng kháng sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 giai đoạn 2004-2008 cung cấp thông tin thiết yếu để hướng dẫn sử dụng thuốc kháng sinh trong thực tiễn lâm sàng. Việc biết được tình hình kháng thuốc của các vi khuẩn phổ biến giúp bác sĩ lựa chọn kháng sinh phù hợp, tránh sử dụng các thuốc kháng sinh không hiệu quả. Đặc biệt quan trọng là phát hiện sự gia tăng MRSA, Acinetobacter kháng đa kháng sinh đòi hỏi chiến lược phòng ngừa nhiễm trùng bệnh viện khắt khe. Các khuyến cáo bao gồm sử dụng kháng sinh thích hợp, tránh lạm dụng, thực hiện kháng sinh đồ trước điều trị, và tuân thủ các quy định về phòng chống nhiễm trùng bệnh viện.

4.1. Hướng dẫn lựa chọn kháng sinh dựa trên kết quả

Dựa trên kháng sinh đồ, với Staphylococcus aureus đề kháng Penicillin, nên sử dụng Cephalosporin hoặc Oxacillin. Với MRSA, sử dụng Vancomycin hoặc Linezolid. Với Escherichia coliKlebsiella, Cephalosporin thế hệ hai-ba hoặc Fluoroquinolone là lựa chọn hợp lý. Với Pseudomonas aeruginosa, Piperacillin/Tazobactam hoặc Ceftazidime phù hợp. Với Acinetobacter baumannii, Carbapenem hoặc Colistin là lựa chọn cuối cùng.

4.2. Chiến lược quản lý kháng thuốc kháng sinh tại bệnh viện

Để kiểm soát đề kháng kháng sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, cần thực hiện: (1) Theo dõi liên tục kháng sinh đồ của vi khuẩn phân lập; (2) Sử dụng kháng sinh hợp lý theo khuyến cáo; (3) Giáo dục cán bộ y tế về kháng sinh phù hợp; (4) Thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp kiểm soát nhiễm trùng bệnh viện; (5) Xây dựng chỉ dẫn sử dụng kháng sinh nội bộ dựa trên dữ liệu đề kháng địa phương.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Sử dụng thuốc an toàn và hợp lý là một trong những mục tiêu quan trọng của chính sách thuốc quốc gia, ở cả khu vực điều trị và trong cộng đồng. Hiện nay tại Việt Nam, tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh trong điều trị các bệnh thông thường diễn ra khá ph ổ biến. Bên cạnh đó thuốc kháng sinh dùng trong điều trị tại b ệnh viện chiếm tỷ lệ khá cao so với tổng số thuốc được dùng. Do công tác kiểm soát thuốc và nhiễm trùng chưa tốt đ ã đưa mức độ đề kháng kháng sinh, đặc biệt là kháng sinh phổ rộng của vi khuẩn gia tăng đến mức báo động.

Có những kháng sinh đặc biệt sử dụng trong điều trị và chưa có kháng sinh thay thế như Vancomycin cũng đã có chủng đề kháng. Việc sử dụng bừa bãi và quá mức kháng sinh cũng làm gia tăng và lan truyền vi khuẩn kháng thuốc trong cộng đồng từ đó dẫn đến thất bại trong điều trị, kéo dài thời gian n ằm viện của bệnh nhân gây tổ n thất lớn về mặt kinh tế. Trong bệnh viện, việc sử dụng kháng sinh hợp lý trên cơ sở hiểu biết về cơ chế tác động của kháng sinh cũng như đặc tính của vi khuẩn gây bệnh là một đóng góp h ết sức to lớn mà khoa vi sinh lâm sàng đóng vai trò rất quan trọng, vai trò này sẽ ngày càng mở rộng hơn khi vi khuẩn đề kháng gây nên tỷ lệ nhiễm trùng ngày càng lớn. Mức độ lan rộng của các tác nhân vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện đang gia tăng và thay đổi nhanh chóng nên phòng vi sinh lâm sàng cần phải xem xét, cập nhật thường xuyên các phương pháp xác định chính xác vi khuẩn gây bệnh và sự nhạy cảm kháng sinh của chúng, góp phần cùng với lâm sàng kiểm soát tốt các bệnh nhiễm trùng.

Từ đó hạn chế tốt sự lây lan của vi khuẩn kháng thuốc, hạn chế nhiễm trùng b ệnh viện, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong cũng như gánh nặng về y tế. Tại Việt Nam đã có nhiều chương trình nghiên cứu, khảo sát về tình hình đề kháng kháng sinh của vi khuẩn trên nhiều phương diện khác nhau. Điển hình là chương trình “Theo dõi sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh thường gặp ở Việt Nam” (ASTS) được tổ chức phát triển quốc tế của Thụy Điển (SIDA) tài trợ nhằm mục tiêu: Sinh viên: Lê Thanh Tùng – 30400669. Trang 2 Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS.

Lê Quốc Thịnh − Theo dõi mức độ nhạy cảm – đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh thường gặp tại 10 bệnh viện thành viên đại diện cho 3 miền Bắc – Trung – Nam. − Hỗ trợ Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện, tổ chức sinh hoạt khoa học, nâng cao kiến thức và kinh nghiệm sử dụng kháng sinh hợp lý, đồng thời đẩy mạnh công tác chống nhiễm trùng bệnh viện. Tuy nhiên, chương trình trên đã kết thúc do SIDA ch ấm dứt hỗ trợ vào tháng 12/2006. Hiện nay, ngo ài những báo cáo tổng kết h àng quý, hàng năm được thực hiện tại một số bệnh viện thì các chương trình theo dõi tình hình đề kháng kháng sinh của các tác nhân vi khuẩn gây bệnh riêng biệt chỉ được thực hiện rất rải rác tại các bệnh viện trên phạm vi toàn quốc, chưa có các theo dõi nhằm đánh giá khuynh hướng đề kháng kháng sinh của các tác nhân vi khuẩn gây bệnh.

Từ lý do trên, chúng tôi xin thực hiện đề tài: “Khảo sát tình hình đề kháng kháng sinh của các tác nhân vi khuẩn gây bệnh tại bệnh viện Nhi Đồng 1 trong 5 năm (10/2003 – 10/2008).” Đề tài có ý nghĩa n êu đánh giá sự đề kháng kháng sinh của các tác nhân vi khuẩn gây bệnh thường gặp tại bệnh viện Nhi Đồng 1 trên đối tượng trẻ em dưới 15 tuổi, làm tài liệu tham khảo cho bác sĩ lâm sàng trong công tác điều trị và chăm sóc bệnh nhân tốt hơn, cho công tác nghiên cứu vi sinh các bệnh nhiễm trùng, cho bộ phận chống nhiễm khuẩn bệnh viện, cho các cơ sở dược và các nhà nghiên cứu… Sinh viên: Lê Thanh Tùng – 30400669. Trang 3 Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Quốc Thịnh PHẦN 2: MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Sinh viên: Lê Thanh Tùng – 30400669. Trang 4 Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS.

Lê Quốc Thịnh 2. Mục tiêu nghiên cứu: 2. Mục tiêu tổng quát: Khảo sát tần suất các vi khuẩn gây b ệnh phân lập được và mức độ đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn này tại bệnh viện Nhi Đồng 1 trong 5 năm (10/2003 – 10/2008). Mục tiêu cụ thể: • Khảo sát tần suất các bệnh phẩm và các tác nhân vi khuẩn gây bệnh thường gặp theo từng khoa trong 10 tháng đầu năm 2008 và trong 5 năm.

• Khảo sát tần suất các tác nhân vi khuẩn phân lập được trong 10 tháng đầu năm 2008. • Khảo sát tình hình đề kháng kháng sinh của các tác nhân vi khuẩn phân lập được trong 10 tháng đầu năm 2008. • So sánh kết quả phân lập vi khuẩn và tình hình đề kháng kháng sinh trong 10 tháng đầu năm 2008 với kết quả trong các năm từ 1/10/2003 – 31/12/2007. Sinh viên: Lê Thanh Tùng – 30400669.

Trang 5 Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Quốc Thịnh PHẦN 3: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Sinh viên: Lê Thanh Tùng – 30400669. Trang 6 Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Quốc Thịnh 3.

Tổng quan về nhiễm trùng. Định nghĩa nhiễm trùng: Nhiễm trùng là tình trạng tác nhân gây bệnh tăng sinh trong cơ thể ký chủ. Sự tăng sinh của vi sinh vật thường trú (normal flora) trong cơ thể tại vị trí thông thường của nó không được gọi là nhiễm trùng. Nhưng sự tăng sinh của vi khuẩn gây b ệnh trong cơ thể dù rằng không có triệu chứng bệnh biểu hiện vẫn được coi là nhiễm trùng [2].1: Tỷ lệ xét nghiệm các mẫu bệnh phẩm vi sinh tại khoa Vi Sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1 trong năm 2007: Loại bệnh phẩm Số mẫu thử Kết quả (+) % Dịch não tủy 1.275 (12,3%) Mủ vết thương 3.

Tiến trình nhiễm trùng: Trước hết là vi khuẩn xâm nhập từ ngã vào, thường là ở biểu mô (niêm mạc hô h ấp, niêm mạc tiêu hóa, niêm mạc sinh dục – tiết niệu), cũng có thể qua vùng tổn thương ở da và niêm mạc (vết cắt, vết phỏng, vết thương). Vào cơ thể, vi khuẩn phải bám dính tế b ào ký chủ, thường tại biểu mô, và tăng sinh tại đây để tạo nên nơi nhiễm trùng đầu tiên (ổ nhiễm trùng nguyên phát). Nhiễm khuẩn có thể lan trực tiếp vào mô hay qua đường bạch huyết để vào máu, nhiễm trùng máu có thể tạm thời (du khuẩn huyết, bacteremia) hay trường diễn (nhiễm trùng huyết, septicemia), có thể cho phép vi khuẩn lan tràn khắp cơ thể và có thể định cư ở tại cơ quan thích hợp cho sự tăng trưởng của nó. Sinh viên: Lê Thanh Tùng – 30400669.

Trang 7 Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Quốc Thịnh Ngoài ra, vi khuẩn còn có thể gây bệnh bằng cách sinh độc tố này vào máu rồi đến tấn công các cơ quan, ví dụ: bạch hầu.2: Kết quả phân lập vi khuẩn gây bệnh tại bệnh viện Nhi Đồng 1 trong năm 2007: Loài vi khuẩn Số lượng phân lập n Tỷ lệ % Klebsiella spp. 842 19,7% Escherichia coli 701 16,4% Acinetobacter spp. 652 15,3% Enterobacter cloacae 177 4,1% Morganella morganii 166 3,9% Proteus spp.

49 1,2% Haemophilus influenzaee 29 0,7% Shigella spp.4% Salmonella typhi 18 0,4% Staphylococcus coagulase negative 787 18,4% Staphylococcus aureus 313 7,3% Streptococcus spp. 72 1,7% Streptococcus pneumoniae 60 1,4% Vi khuẩn khác 404 14,45% Tổng số vi khuẩn được phân lập 4270 100% 3. Tổng quan về chương trình ASTS tại Việt Nam: Sử dụng thuốc an to àn, hợp lý là một trong những mục tiêu quan trọng của chính sách thuốc quốc gia, ở cả khu vực điều trị và trong cộng đồng. Hiện nay, ở Việt Nam, tình trạng lạm dụng kháng sinh để điều trị các bệnh thông thường diễn ra khá phổ biến, kháng sinh thường chiếm tỷ lệ lớn so với tổng số thuốc dùng trong b ệnh viện.

Nếu kháng sinh bị lạm dụng và ch ỉ định không đúng, sẽ tạo ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc dẫn tới thất bại trong điều trị hoặc tốn kém về mặt kinh tế. Do đó, một hoạt động theo dõi tình hình kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh Sinh viên: Lê Thanh Tùng – 30400669. Trang 8 Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Quốc Thịnh thường gặp để xây dựng một kho dữ liệu là rất cần thiết nhằm hướng dẫn điều trị, ngăn ngừa sự gia tăng các chủng vi khuẩn kháng thuốc.

Mục tiêu của hoạt động này là đưa được thông tin chính xác về tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh thường gặp tại Việt Nam, tư vấn cho Bộ Y tế chỉ đạo sử dụng kháng sinh hợp lý đồng thời cập nhật và nâng cao kiến thức về vi khuẩn và sử dụng kháng sinh h ợp lý cho bác sĩ và dược sĩ. Việc tư vấn cho Bộ Y tế chỉ đạo sử dụng kháng sinh hợp lý trên cơ sở báo cáo hàng năm của các đơn vị thành viên về tình hình kháng thuốc của các vi khuẩn gây b ệnh thường gặp ở Việt Nam. Nội dung về tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh thường gặp tại Việt Nam được đăng trên Tạp chí thông tin Dược lâm sàng, và điều tra kiến thức của bác sĩ, dược sĩ tại các đơn vị tham gia theo dõi ASTS về vi khuẩn với kháng sinh và sử dụng kháng sinh hợp lý. Ngày 29/7/2004, Bộ trưởng bộ Y tế ban ch ỉ đạo do Bộ trưởng Bộ Y tế ký quyết định số 2548/QĐ-BYT về việc thành lập ban chỉ đạo theo dõi sự kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh tại Việt Nam.

Nhiều hoạt động đã được thực hiện, bao gồm tổ chức sinh hoạt khoa học và điều tra kiến thức của bác sĩ, dược sĩ tại các bệnh viện có phòng xét nghiệm và biên tập thông tin về sự kháng thuốc của vi khuẩn gây b ệnh tại Việt Nam và đề xuất với Bộ Y tế. Thông qua các hoạt động trên các đơn vị thành viên hàng năm báo cáo về tình hình kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh thường gặp tại Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ