đặt vấn đề nhƣ trên, ta có thể khái quát những đặc điểm cơ bản của nguồn vốn đầu tƣ này: - Một là, đối tƣợng đầu tƣ không chỉ đơn thuần thuộc lĩnh vực sản xuất, kinh doanh để nhà đầu tƣ trực tiếp thu lợi nhuận, thu đƣợc một giá trị lớn hơn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giá trị vốn đã bỏ ra, mà khoản đầu tƣ này còn lấy đối tƣợng phục vụ là phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu, triển khai tìm kiếm, phát hiện tri thức mới và vận dụng những tri thức đó vào việc tạo ra những phƣơng tiện, phƣơng pháp mới thúc đẩy sản xuất và nâng cao chất lƣợng cuộc sống xã hội. Nó không là bộ phận đầu tƣ trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản lƣu động, mà là bộ phận đầu tƣ để tăng năng lực sản xuất và để nâng cao chất lƣợng của sự tăng trƣởng. Đầu tƣ cho phát triển KH&CN thực chất là đầu tƣ cho phát triển tri thức. Bởi vậy, đây là hình thức đầu tƣ có tính “sống còn” trong việc nâng cao năng suất lao động của từng doanh nghiệp cũng nhƣ thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển kinh tế của một quốc gia.
- Hai là, xét theo chu trình nghiên cứu – triển khai – sản xuất, thì hoạt động KH&CN nằm trong giai đoạn trƣớc khi đƣa ra sản xuất đại trà. Theo cách tiếp cận này, đầu ra của các dự án KH&CN (sản phẩm khoa học và sản phẩm công nghệ) mới chỉ dừng lại ở sản phẩm loạt nhỏ, không thể bán đại trà và mới chỉ có khả năng thƣơng mại hóa. Do mục tiêu của một dự án KH&CN là tạo ra hoặc hoàn thiện các yếu tố liên quan đến sự khám phá hoặc đến công nghệ (áp dụng, cải tiến, hấp thụ, làm chủ công nghệ) và sản phẩm của dự án có khả năng chuyển giao (thƣơng mại hóa), nên trong quá trình thực hiện dự án, bản thân ngƣời trong cuộc sẽ phải có những hoạt động triển khai cụ thể mà những hoạt động này có thể nằm trong những giai đoạn khác nhau trong chu trình nghiên cứu – triển khai – sản xuất. Sản phẩm của dự án KH&CN có thể là tri thức mới, là công nghệ hoàn chỉnh với đầy đủ tính năng mong muốn và có khả năng thƣơng mại hóa.
Sản phẩm của KH&CN thực chất là tri thức, chất xám nên khó định lƣợng, đƣợc thể hiện dƣới dạng vật chất hữu hình nhƣ bằng phát minh sáng chế hoặc vô hình dƣới dạng ý tƣởng công nghệ. Việc xác định giá trị của hàng hóa này là 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điều rất khó, do lao động sáng tạo ra hàng hóa là lao động trí óc và tồn tại sự bất đối xứng thông tin giữa bên bán và bên mua. Thực tế cho thấy, sự thành công trong việc tạo ra tri thức, công nghệ và khả năng chuyển giao, thƣơng mại hóa phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: kinh tế, kỹ thuật, tài chính, xã hội, …. Điều này có nghĩa là đầu tƣ vào các dự án KH&CN thƣờng có độ mạo hiểm và rủi ro tƣơng đối.
Những rủi ro này thƣờng gắn với rủi ro về mặt công nghệ và rủi ro về mặt thị trƣờng. Rủi ro về mặt công nghệ gắn nhiều tới các yếu tố kỹ thuật, các yếu tố đầu vào khác của dự án (kinh tế, tài chính). Điều này nghĩa là nếu sử dụng tiền túi tự đầu tƣ để nghiên cứu thì sự mạo hiểm có thể dẫn đến nguy hiểm. Thực tế, đã có nhiều nhà khoa học ở các nƣớc tƣ bản công nghiệp bị phá sản vì thất bại.
Rủi ro về mặt thị trƣờng gắn nhiều tới các yếu tố liên quan tới cầu (nhu cầu và sức mua) của thị trƣờng. Đầu tƣ cho KH&CN tiềm ẩn sự “mạo hiểm”. Ngay cả tại các nƣớc phát triển, tỷ lệ nghiên cứu thành công có thể áp dụng vào đời sống và sản xuất cũng chỉ khoảng trên dƣới 20%. Tuy vậy, đi cùng với nó, một dự án khi thành công (tạo ra sản phẩm là tri thức, công nghệ hoàn chỉnh, đáp ứng đƣợc nhu cầu thị trƣờng), thì nhà đầu tƣ sẽ thu lợi nhuận lớn, thậm chí là rất lớn nếu đó là những dự án mang tính đột phá.
Đây chính là một điểm khá hấp dẫn các nhà đầu tƣ. - Ba là, KH&CN là yếu tố “đầu vào” rất quan trọng để biến đổi các nguồn lực sản xuất, là thƣớc đo trình độ phát triển của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Trong kinh tế thị trƣờng, do áp lực cạnh tranh và lợi nhuận, từng doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế đều phải coi phát triển khoa học và đổi mới công nghệ sản xuất là một đòi hỏi có tính sống còn. Bí quyết về KH&CN phải có chủ sở hữu.
Việc sản xuất và mua bán loại tài sản này tất yếu sẽ diễn ra, do đó tất yếu hình thành và phát triển thị trƣờng KH&CN. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kinh tế thị trƣờng càng phát triển, càng thúc đẩy phân công, chuyên môn hóa sâu. Việc một chủ thể có đƣợc một sản phẩm KH&CN cũng không nhất thiết phải do chính chủ đó tạo ra, họ có thể mua trên thị trƣờng. Do đó, tồn tại quan hệ cung – cầu về KH&CN.
Dòng chảy của vốn đầu tƣ cho KH&CN phải tuân theo quan hệ cung – cầu trên thị trƣờng. Tức là ngƣời ta chỉ đầu tƣ vào lĩnh vực hay dự án KH&CN nào mà xã hội có nhu cầu. Theo quy luật về dòng chảy của các nguồn vốn đầu tƣ sản xuất, kinh doanh, thì sức cầu là một yếu tố quyết định việc chủ thể kinh tế nên đầu tƣ vào dự án KH&CN nào và mức độ nhiều hay ít. Bởi vì loại vốn đầu tƣ này cũng tìm kiếm lợi nhuận.
Nó sẽ vận động từ nơi hoạt động đầu tƣ kém hiệu quả đến nơi hoạt động đầu tƣ có hiệu quả hơn. Trên thị trƣờng KH&CN, sự cạnh tranh giữa các cơ sở khoa học với tƣ cách là ngƣời bán (nghiên cứu, tìm kiếm sản phẩm tốt nhất phục vụ khách hàng), và cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp với tƣ cách là ngƣời mua (lựa chọn sản phẩm tốt nhất của các cơ sở khoa học phục vụ mục tiêu phát triển). Điều đó có nghĩa là trong nền kinh tế thị trƣờng, đầu tƣ cho phát triển KH&CN không chỉ đơn thuần là công việc đƣợc Nhà nƣớc bao cấp nhƣ đã hiểu và làm trƣớc đây ở nƣớc ta. Đầu tƣ cho KH&CN trƣớc hết phải là hoạt động đầu tƣ cho sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp không phân biệt thuộc thành phần kinh tế nào trong cơ chế thị trƣờng.
Vì khoản đầu tƣ này gắn với lợi ích thiết thân của mỗi chủ thể kinh tế. Tuy nhiên, đầu tƣ vào KH&CN không phải là vì bản thân KH&CN, mà lại vì đầu tƣ đó có đem lại cho chủ sản xuất kinh doanh một hàng hóa dịch vụ nào đó có chi phí thấp hơn và có chất lƣợng sản phẩm cao hơn năng lực hiện có hay không? Đầu tƣ cho KH&CN là khoản đầu tƣ phái sinh, chỉ xuất hiện khi có nhu cầu đầu tƣ tạo sản phẩm mới hoặc làm tăng thêm năng lực sản xuất kinh doanh của một hàng hóa, dịch vụ nào đó trên thị trƣờng. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Bốn là, do hiệu quả của hoạt động KH&CN có độ trễ nhất định, không dễ thấy, nên việc đầu tƣ không thể đòi hỏi nhìn thấy hiệu quả ngay lập tức. Đầu tƣ cho KH&CN là đầu tƣ phát triển, đầu tƣ cho tƣơng lai.
Nghiên cứu đã mất nhiều thời gian, đƣa kết quả nghiên cứu vào cuộc sống cũng cần có thời gian, để kết quả nghiên cứu phát huy hiệu quả lại cần thêm thời gian nữa. Đây chính là quá trình “thƣơng mại hóa” kết quả nghiên cứu. Trong lịch sử, nhiều phát minh vĩ đại phải hàng chục năm sau mới đƣợc xã hội biết đến. Nhƣng nếu không đầu tƣ cho nghiên cứu hôm nay thì không bao giờ có kết quả ngày mai.
Đầu tƣ cho KH&CN ngoài hiệu quả trực tiếp, còn có hiệu quả tiềm năng (Ví dụ, đầu thập niên 70 thế kỷ XX, Việt Nam bắt đầu nghiên cứu về ƣu thế lai, 25 năm sau đánh bật đƣợc các công ty nƣớc ngoài, giành lại thị phần ngô giống lai ở Việt Nam); hiệu quả mang tính tích hợp nhƣ: Việt Nam chặn đứng đƣợc dịch SARS sớm nhất thế giới là nhờ công của các nhà nghiên cứu siêu vi trùng, dịch tễ học,bác sĩ điều trị; hiệu quả gián tiếp nhƣ công trình nghiên cứu sản xuất dây hàn lõi thuốc bằng vật liệu trong nƣớc ngoài hiệu quả kinh tế còn góp phần vào nâng cao chất lƣợng đóng tàu của Việt Nam. Nhiều sản phẩm khoa học mang lại hiệu quả lớn nhƣng là hiệu quả gián tiếp hoặc vô hình. Ví dụ, một phần mềm diệt vi rút máy tính. Hiệu quả kinh tế trực tiếp của nó rất khó nhìn thấy.
Nhƣng ở một nƣớc có khoảng 10 triệu máy tính cá nhân, nếu không có phần mềm diệt virus hiệu quả, khi bị virus tấn công trên diện rộng, chi phí sửa chữa một máy có thể tới vài chục đô la. Nhân lên cả xã hội thì tổn thất là rất lớn, chƣa kể thiệt hại do cơ sở dữ liệu quản lý của cả xã hội bị phá hủy, trong khi việc bỏ ra vài nghìn đô la để đầu tƣ nghiên cứu phần mềm diệt virus có thể cứu đƣợc cả chục triệu cái máy tính trên, giảm tổn thất cho xã hội hàng nghìn tỷ đồng. Một ví dụ khác, nghiên cứu chế tạo thành công hệ thống xylanh nâng hạ thủy lực tải trọng lớn (400 tấn) ở công trình thủy điện Sơn La. Hiệu quả nhìn 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thấy đƣợc có thể chỉ là mấy triệu USD tiết kiệm đƣợc so với mua của nƣớc ngoài, nhƣng hiệu quả vô hình chính là sản phẩm khoa học này đã giúp rút ngắn thời gian thi công nhà máy, phát điện trƣớc thời hạn 2 năm, cung cấp cho đất nƣớc hàng chục tỷ kWh điện, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội hàng tỷ USD.
Đó là chƣa kể những lợi ích khác nhƣ chúng ta làm chủ đƣợc công nghệ chế tạo, không phụ thuộc vào nƣớc ngoài, có thể sử dụng cho các công trình khác tiếp theo nhƣ thủy điện Lai Châu, tiếp tục mang lại hiệu quả kinh tế cao. - Năm là, đầu tƣ cho KH&CN cũng là hoạt động đầu tƣ trong kinh tế thị trƣờng để tạo ra sản phẩm hàng hóa. Do vậy, nguồn huy động vốn cho hoạt động đầu tƣ này cũng tất yếu thông qua thị trƣờng. Các hình thức tín dụng, cổ phiếu, trái phiếu cũng là kênh dẫn vốn thiết yếu cho hoạt động đầu tƣ này.