phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung chính của đề án tốt nghiệp gồm 3 phần: Phần 1. Cơ sở xây dựng đề án hoàn thiện đào tạo nhân lực tại Công ty cổ phần đầu tư xây lắp và vật liệu xây dựng Đông Anh Phần 2. Nội dung của đề án hoàn thiện đào tạo nhân lực tại Công ty cổ phần đầu tư xây lắp và vật liệu xây dựng Đông Anh Phần 3. Các đề xuất và kiến nghị nhằm hoàn thiện đào tạo nhân lực tại Công ty cổ phần đầu tư xây lắp và vật liệu xây dựng Đông Anh 6 Phần 1 CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN HOÀN THIỆN ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƢ XÂY LẮP VÀ VẬT LIỆU XÂY DỰNG ĐÔNG ANH 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nhân lực Theo Lê Thanh Hà (2012), trong phạm vi của tổ chức, nhân lực trong tổ chức chính là một bộ phận của nguồn nhân lực xã hội. Nhân lực của tổ chức là nguồn lực của toàn bộ cán bộ, nhân viên trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức. Sức mạnh của tập thể lao động vận dụng vào việc đạt được những mục tiêu chung của tổ chức, trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu riêng của mỗi thành viên.
Theo tiếp cận của Nguyễn Ngọc Quân (2012), nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này có thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tùy thuộc và tuổi tác, thời gian công tác, giới tính,… Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách… của từng con người. Theo Mai Thanh Lan, Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016), nhân lực trong doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ những người làm việc trong doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
Theo khái niệm này, nhân lực của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ những con người làm việc cho doanh nghiệp, được doanh nghiệp quản lý, sử dụng và trả công. Nhân lực là một nguồn lực quan trọng nhất của doanh nghiệp cần được đầu tư, khai thác và sử dụng có hiệu quả. Trước đây yếu tố con người trong doanh nghiệp chưa được xem là một nguồn lực, là một tài sản, nó được coi là một khoản chi phí nhiều hơn là một sự đầu tư. Hiện nay vị trí và vai trò của nhân lực ngày càng được khẳng định rõ vì nhân lực chính là chủ thể thực hiện toàn bộ các hoạt động trong doanh nghiệp, đặc biệt là sáng tạo ra, vận hành, sử dụng có hiệu quả tất cả các nguồn lực khác.
Nguồn lực của mỗi con người bao gồm có thể lực và trí lực. Thể lực là sức khỏe của cơ thể con người ví dụ như chiều cao, cân nặng, sức bền,. Trí lực là năng 7 lực trí tuệ của con người ví dụ như học vấn, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp và ý thức của con người. Trong rất nhiều trường hợp, trí lực của con người có tính chất quyết định đến việc sử dụng thể lực của họ trong quá trình làm việc.
Cả thể lực và trí lực đều chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. Doanh nghiệp cần quan tâm đến các yếu tố này nhằm duy trì và phát triển cả thể lực và trí lực của mỗi con người trong doanh nghiệp. Khi xem xét đến nguồn nhân lực doanh nghiệp quan tâm đến các khía cạnh về số lượng/quy mô của nhân lực là bao nhiêu, chất lượng/năng lực như thế nào với cơ cấu ra sao. Khái niệm quản trị nhân lực Có rất nhiều khái niệm về quản trị nhân lực bản thân tôi đã nhận thấy trong quá trình nghiên cứu và tham khảo tài liệu như: Theo tài liệu của Harold Koontz, Heinz Weihrich (2010): Quản trị được hiểu là "quá trình thiết kế và duy trì một môi trường trong đó các cá nhân làm việc cùng nhau trong các nhóm nhằm hoàn thành các mục tiêu đã xác định một cách có hiệu quả.
Hoạt động quản trị được thực hiện ở bất kì tổ chức/doanh nghiệp nào cũng như ở tất cả các cấp quản trị khác nhau nhằm mục tiêu như nhau là nhằm tạo ra lợi nhuận thông qua bốn chức năng: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát" Như vậy quản trị có thể được hiểu một cách khái quát là tổng hợp các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu thông qua sự nỗ lực của những người khác và được thực hiện thông qua bốn chức năng hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát. Theo Vũ Thùy Dương, Hoàng Văn Hải (2010): Quản trị nhân lực là tổng hợp những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả yếu tố con người trong tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung của doanh nghiệp”. Theo cách tiếp cận này có thể thấy quản trị nhân lực bao gồm những hoạt động như: tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng hiệu quả con người để nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu và phát triển. Có thể thấy khái niệm này chỉ nói đúng về một mặt của quản trị nhân lực, cụ thể là cách sử dụng nhân lực để phát triển chiến lược kinh doanh của công ty.
Có khá nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm quản trị nhân lực, tuy nhiên theo cách tác giả Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016) Giáo trình Quản trị nhân lực căn bản, NXB Thống kê, Hà Nội đã khẳng định “Quản trị nhân lực được hiểu là tổng hợp các hoạt động quản trị liên quan đến việc hoạch 8 định nhân lực, tổ chức quản trị nhân lực, tạo động lực cho người lao động và kiểm soát hoạt động quản trị nhân lực trong tổ chức/doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu và chiến lược đã xác định”. Theo tôi, quan điểm của Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn đưa ra khá đầy đủ về vấn đề này, quan điểm có tính khái quát và đầy đủ nhất về khái niệm Quản trị nhân lực. Cụ thể, khái niệm tập trung và 4 hoạt động chính: hoạch định, tổ chức, tạo động lực và kiểm soát hoạt động quản trị nhân lực. Khái niệm đào tạo nhân lực Theo D.
Cherington (1995), đào tạo nhân lực liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kĩ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể, còn phát triển nhân lực liên quan đến việc nâng cao khả năng trí tuệ và cảm xúc cần thiết để thực hiện các công việc tốt hơn. Robbins (1994), đào tạo nhân lực liên quan đến quá trình tiếp thu các kiến thức, học các kĩ năng mới, thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của cá nhân. Có nghĩa là đào tạo nhân lực được áp dụng để thay đổi việc nhân viên biết gì, làm như thế nào và quan điểm của họ đối với công việc, hoặc mối quan hệ với đồng nghiệp và nhà quản lý. Theo Vũ Thùy Dương, Hoàng Văn Hải (2010), đào tạo nhân lực được hiểu là quá trình cung cấp kiến thức, hoàn thiện kỹ năng, rèn luyện phẩm chất nghề nghiệp cho người lao động để họ thực hiện tốt công việc hiện tại và tương lai.
Theo Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016), đào tạo nhân lực được hiểu là quá trình cung cấp kiến thức, hoàn thiện kỹ năng, rèn luyện các phẩm chất nghề nghiệp cho người lao động để họ có thể thực hiện tốt công việc. Trong phạm vi của đề án này, tác giả sử dụng khái niệm của Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Liên (2022), đào tạo nhân lực được hiểu là quá trình hoàn thiện, nâng cao năng lực của người lao động nhằm đáp ứng yêu cầu của công việc, từ đó góp phần thực hiện mục tiêu đã xác định của doanh nghiệp. Nội dung lý luận về đào tạo nhân lực tại doanh nghiệp 1. Nội dung nghiên cứu về đào tạo nhân lực tại doanh nghiệp a.
Xác định nhu cầu đào tạo nhân lực Mục đích của xác định nhu cầu đào tạo nhân lực Nhu cầu đào tạo là những đòi hỏi về số lượng và cơ cấu nhân lực cần được đào tạo, các nội dung cần được đào tạo để đáp ứng yêu cầu và thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp trong hiện tại và tương 9 lai. Xác định nhu cầu đào tạo là giai đoạn đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình đào tạo nhân lực của doanh nghiệp. Nếu việc xác định nhu cầu không đầy đủ, không chính xác, không khách quan thì có thể gây ra nhiều lãng phí trong việc sử dụng các nguồn lực, hơn nữa kết quả đào tạo không đạt được mục tiêu đã đề ra, làm giảm chất lượng công tác quản trị nhân lực của doanh nghiệp. Căn cứ xác định nhu cầu đào tạo Để xác định nhu cầu đào tạo chính xác, cần phải dựa vào các căn cứ sau: Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp: Việc xác định nhu cầu đào tạo phải dựa vào mục tiêu và nội dung của từng loại chiến lược trong từng thời kì khác nhau của doanh nghiệp, cho biết mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp trong từng giai đoạn phát triển.
Những mục tiêu này đặt ra các yêu cầu khác nhau về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ lao động, trình độ, năng lực chuyên môn và phẩm chất nghề nghiệp của từng thành viên. Kế hoạch nhân lực của doanh nghiệp: Kế hoạch nhân lực của doanh nghiệp bao gồm các kế hoạch gắn với các nội dung của quản trị nhân lực như: Tuyển dụng nhân lực, bố trí và sử dụng nhân lực…Các kế hoạch này cho biết sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức, doanh nghiệp như số lượng lao động cần tuyển, tỷ lệ lao động cần thuyên chuyển… từ đó giúp nhà quản trị nắm được chi tiết số lượng cũng như chất lượng lao động, cơ cấu ngành nghề và trình độ chuyên môn sẽ biến động trong tương lai để xác định nhu cầu đào tạo sát với thực tế.