Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề án QLNN về bảo vệ rừng. Chương 2: Thực trạng công tác QLNN về BVR trên địa bàn huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Chương 3: Giải pháp của đề án QLNN về BVR trên địa bàn huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Chương 4: Tổ chức thực hiện.
5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ ÁN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO VỆ RỪNG 1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến QLNN về bảo vệ rừng 1. Khái niệm bảo vệ rừng “Rừng là tài nguyên quý giá, có khả năng tái tạo và có giá trị kinh tế quan trọng đối với mỗi quốc gia và thế giới. Rừng đóng vai trò quan trọng đối với sinh kế của con người, cung cấp nguồn không khí và nước sạch, bảo tồn đa dạng sinh học và chống biến đổi khí hậu.
Rừng là nguồn cung cấp thực phẩm, dược liệu và nhiên liệu cho hơn 1 tỷ người trên trái đất. Bên cạnh đó rừng còn giúp đối phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ đất và nguồn nước. Rừng chiếm hơn 3/4 tổng thể đa dạng sinh học trên cạn của thế giới, cung cấp nhiều sản phẩm, dịch vụ góp phần phát triển KT – XH và đặc biệt quan trọng đối với sinh kế của hàng trăm triệu người ở các vùng nông thôn, bao gồm cả các vùng nghèo nhất trên thế giới. Do đó, BV&PTR là một trong những vấn đề trọng tâm trong các chương trình nghị sự của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế.” Mặc dù vậy, gần như không có một định nghĩa cụ thể về BVR.
Thay vào đó, các quy định về BVR thường đưa ra các định nghĩa về rừng, các nội dung của hoạt động BVR, các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm về các chính sách và quản lý rừng cũng như các cơ chế giải quyết các vi phạm, xung đột và các mối quan tâm khác. Tại khoản 3, điều 2, điều 3 Luật Lâm nghiệp năm 2017 đã đưa ra khái niệm về rừng: "Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên". “Bảo vệ rừng (BVR) là tổng thể các hoạt động của tổ chức và cá nhân tác 6 động vào rừng nhằm phòng, chống những tác động tiêu cực đến rừng để duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng, sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, bảo tồn đa dạng sinh học và giữ gìn cảnh quan môi trường sinh thái". Theo Luật Lâm nghiệp năm 2017 có liệu lực từ ngày 01/01/2019, các nội dung của BVR được quy định tại điều 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43 của Luật này, bao gồm: Bảo vệ hệ sinh thái rừng; Bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng; Phòng cháy và chữa cháy rừng (PCCCR); Phòng, trừ sinh vật gây hại rừng; Lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng của chủ rừng; Kiểm tra nguồn gốc lâm sản; Trách nhiệm bảo vệ rừng của toàn dân.
Khái niệm quản lý nhà nước về bảo vệ rừng “- Khái niệm quản lý: quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường. - Khái niệm về quản lý rừng: Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc – FAO, quản lý rừng (forest management) là quá trình lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động quản lý và sử dụng rừng và đất rừng khác để đáp ứng các mục tiêu cụ thể về môi trường, KT – XH, và văn hóa. Từ đó có thể rút ra việc quản lý rừng bền vững phải đảm bảo được các yếu tố: + Giữ vững sản xuất lâm nghiệp ổn định và phát triển lâu dài, đạt hiệu quả kinh tế cao. + Bảo đảm lợi ích tổng thể của rừng và đất rừng cho các thế hệ khác nhau.
+ Bảo vệ và duy trì được diện tích và năng suất của rừng, không gây ô nhiễm môi trường sống. + Góp phần giải quyết các vấn đề KT - XH của địa phương như tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo và tăng thu nhập, v. * Không tách biệt hoạt động BVR, mà xem đó là một yếu tố quan trọng, là mục đích của quản lý/ quản trị rừng. * Quản lý một cách toàn diện đến các đối tượng có liên quan đến hoạt động BVR và trách nhiệm của các đối tượng đó, trong đó bao gồm các cơ quan nhà nước.
* Nhà nước tham gia vào hoạt động BVR với tư cách là người tham gia trực 7 tiếp vào các hoạt động BVR hoặc là người tạo ra các khuôn khổ, quy tắc, có khả năng tác động đến các đối tượng tham giam BVR và các hoạt động BVR. - Khái niệm quản lý nhà nước: QLNN là dạng quản lý xã hội, thể hiện vai trò và việc thực thi quyền lực của nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhà nước để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. - Khái niệm quản lý nhà nước về bảo vệ rừng: là quá trình các chủ thể QLNN tác động, tổ chức điều chỉnh các hoạt động BVR và hành vi của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng thông qua các công cụ chính sách và pháp luật trong hoạt động quản lý nhằm đạt được yêu cầu, mục đích BVR nhà nước đã đặt ra. Trong hoạt động quản lý thì chủ thể quản lý là các tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp từ chủ thể quản lý.
Nói một cách khái quát: quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường. QLNN là dạng quản lý xã hội, thể hiện vai trò và việc thực thi quyền lực của nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhà nước để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Nói cách khác, QLNN không phải là sự quản lý đối với nhà nước mà là sự quản lý có tính chất nhà nước, của nhà nước đối với xã hội; thực hiện bởi quyền lực của nhà nước; được ghi nhận, củng cố bằng pháp luật và đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế nhà nước. QLNN, do đó, có những đặc trưng cơ bản như: QLNN mang tính chất quyền lực nhà nước, có tính chất tổ chức cao và mang tính mệnh lệnh của nhà nước, QLNN mang tính tổ chức và điều chỉnh chủ yếu, QLNN mang tính tổ chức và kế hoạch, QLNN mang tính liên tục.
QLNN trong lĩnh vực BVR là một bộ phận QLNN. Do đó, có thể khái quát về 8 QLNN trong lĩnh vực BVR như sau: là quá trình các chủ thể QLNN tác động, tổ chức điều chỉnh các hoạt động BVR và hành vi của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng thông qua các công cụ chính sách và pháp luật trong hoạt động quản lý nhằm đạt được yêu cầu, mục đích BVR nhà nước đã đặt ra. Nội dung quản lý nhà nƣớc về bảo vệ rừng Các nội dung của QLNN về BV&PTR được quy định tại khoản 2 Điều 102 của Luật Lâm nghiệp (2017). Trong đó, QLNN về BVR bao gồm các nội dung sau: 1.
Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực quản lý nhà nƣớc về bảo vệ rừng Khái niệm bộ máy nhà nước: “Để thực hiện tốt chức năng của Nhà nước, bộ máy nhà nước cần được tổ chức chặt chẽ, khoa học. Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương, được tổ chức theo những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Hệ thống cơ quan QLNN về BVR nằm trong hệ thống cơ quan QLNN nói chung và được tổ chức thống nhất từ trung ương tới địa phương với cơ cấu tổ chức như sau: - Chính phủ là cơ quan thống nhất QLNN về BVR - Bộ NN&PTNT chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện QLNN về BVR trên phạm vi toàn quốc. - Bộ TN&MT, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ NN&PTNT thực hiện QLNN về BVR.
- UBND các cấp (tỉnh, huyện, xã) có trách nhiệm thực hiện QLNN về BVR tại địa phương theo thẩm quyền. - Các cơ quan QLNN trong lĩnh vực BVR có thể được phân loại thành 2 nhóm, gồm (i) cơ quan QLNN có thẩm quyền chung và (ii) cơ quan QLNN có thẩm quyền chuyên ngành. Trong đó, nhóm (i) gồm Chính phủ và UBND các cấp, còn nhóm (ii) được tổ chức thống nhất từ trung ương đến cấp huyện gồm: 9 + Cơ quan thực hiện QLNN chuyên ngành về BVR ở Trung ương là Bộ NN&PTNT với cơ quan giúp việc là Tổng cục Lâm nghiệp. + Cơ quan giúp UBND cấp tỉnh thực hiện QLNN chuyên ngành về BVR là Sở NN&PTNT.
+ Cơ quan giúp UBND cấp huyện thực hiện QLNN chuyên ngành về BVR là Phòng NN&PTNT và Hạt Kiểm lâm. + Cấp xã (nơi có rừng) có cán bộ lâm nghiệp chuyên trách giúp Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện nhiệm vụ chuyên môn về BVR. - Trong hệ thống cơ quan QLNN có thẩm quyền chuyên ngành về BVR, bên cạnh Bộ NN&PTNT, Sở NN&PTNT và Phòng NN&PTNT còn có cơ quan chuyên trách về công tác BVR với cơ cấu tổ chức như sau: + Ở Trung ương: Cục Kiểm lâm trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ NN&PTNT. + Ở cấp tỉnh: Chi cục Kiểm lâm trực thuộc Sở NN&PTNT.
+ Ở cấp huyện: Hạt Kiểm lâm trực thuộc Chi cục Kiểm lâm. Hạt Kiểm lâm quản lý công chức kiểm lâm địa bàn xã. Chính phủ quy định tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên ngành về lâm nghiệp từ trung ương đến cấp huyện và cán bộ lâm nghiệp ở những xã, phường, thị trấn có rừng.