Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục tiểu học theo Quyết định số 03/2002/QĐ-BGD-ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, môn Mỹ thuật đóng vai trò nền tảng trong việc giáo dục thẩm mỹ và phát triển toàn diện nhân cách học sinh. Phân môn Tập nặn tạo dáng lớp 2 là nội dung đặc thù giúp học sinh bước đầu tiếp cận nghệ thuật điêu khắc trong không gian ba chiều. Tuy nhiên, thời lượng phân môn này hiện chỉ chiếm 4 tiết trên tổng số 35 tiết của cả năm học, tương đương khoảng 11,4% khung chương trình.

Tại Trường Tiểu học Lê Hồng Phong, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, năm học 2016 - 2017 ghi nhận quy mô toàn khối lớp 2 gồm 181 học sinh phân bổ đều tại 5 lớp học, với tỷ lệ học sinh học đúng tuyến đạt 95%. Mặc dù có lợi thế lớn về dân trí và điều kiện kinh tế xã hội, việc dạy và học phân môn Tập nặn tạo dáng tại trường vẫn đối mặt với nhiều rào cản. Việc thiếu phòng học chức năng chuyên biệt cùng sự thiếu hụt học liệu khiến nhiều tiết nặn bị chuyển đổi sang hình thức vẽ hoặc xé dán phẳng trên giấy.

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập nặn tạo dáng cho học sinh lớp 2 tại Trường Tiểu học Lê Hồng Phong trong năm học 2016 - 2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, giúp chuẩn hóa kỹ năng tạo hình 3D cho 181 học sinh khối 2, nâng tỷ lệ hoàn thành tốt bài tập từ mức dưới 40% lên trên 68%, đồng thời tạo tiền đề đổi mới phương pháp cho đội ngũ 35 cán bộ, giáo viên nhà trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận giáo dục thẩm mỹ tiểu học kết hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh lứa tuổi 7 đến 8 tuổi. Tác giả kế thừa hệ thống lý luận dạy học mỹ thuật từ các công trình kinh điển của các chuyên gia đầu ngành tại Việt Nam và tài liệu chuyển giao từ Liên Xô trước đây. Đồng thời, đề tài tích hợp trực tiếp mô hình dạy học mỹ thuật mới từ Dự án Hỗ trợ giáo dục mỹ thuật cấp tiểu học (SAEPS) do Chính phủ Đan Mạch tài trợ giai đoạn 2011 - 2015, vốn đã tập huấn thành công cho gần 600 giáo viên mỹ thuật cốt cán tại 63 tỉnh, thành phố.

Khung lý thuyết của luận văn làm rõ 4 khái niệm then chốt:

  • Khối: Khoảng không gian ba chiều được xác định bởi chiều cao, chiều rộng và chiều sâu, chiếm một thể tích thực tế.
  • Điêu khắc: Nghệ thuật tạo hình ba chiều thông qua các kỹ thuật đục, khắc, tạc hoặc nặn trên chất liệu dẻo và cứng.
  • Tập nặn tạo dáng tự do: Hoạt động thao tác trực tiếp trên đất sét hoặc đất nặn màu để biểu đạt nhận thức và cảm xúc cá nhân.
  • Quy trình tạo hình 3D tiếp cận theo chủ đề: Phương pháp kích thích đa giác quan, kết nối các hình khối thành câu chuyện hoạt cảnh sinh động.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập trong năm học 2016 - 2017 tại khuôn viên rộng 5.968,1 m² của Trường Tiểu học Lê Hồng Phong. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 181 học sinh khối 2 và 35 cán bộ, giáo viên nhà trường, trong đó tỷ lệ giáo viên đạt trình độ trên chuẩn là 97%. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu mục đích kết hợp đối chứng ngẫu nhiên: lựa chọn 36 học sinh lớp 2A làm lớp thực nghiệm và 37 học sinh lớp 2B làm lớp đối chứng nhằm đảm bảo tính tương đồng về năng lực đầu vào và sĩ số trung bình 36 học sinh mỗi lớp.

Dữ liệu được thu thập qua việc dự giờ 35 tiết dạy học, khảo sát sản phẩm tạo hình từ 181 bài nặn thực tế và phỏng vấn sâu 4 phụ huynh cùng học sinh vào ngày 12 tháng 11 năm 2016. Tác giả lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả so sánh tỷ lệ phần trăm (%). Rationale lựa chọn phương pháp này xuất phát từ tính đặc thù của môn nghệ thuật: việc kết hợp định lượng và định tính cho phép đo lường chính xác mức độ thuần thục 7 kỹ năng nặn cơ bản, đồng thời đánh giá khách quan giá trị biểu cảm thẩm mỹ mà không làm mất đi tính cá nhân hóa trong sáng tạo của học sinh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực trạng và tổ chức thực nghiệm sư phạm đã mang lại những kết quả định lượng rõ nét:

Thứ nhất, việc áp dụng phương pháp dạy học tích hợp Đan Mạch tạo ra bước đột phá về chất lượng bài nặn. Tại lớp thực nghiệm 2A (36 học sinh), tỷ lệ học sinh đạt mức hoàn thành tốt bài tập nặn chủ đề con vật đạt 68,5%, cao hơn 32,4% so với lớp đối chứng 2B (37 học sinh) chỉ đạt 36,1% khi dạy theo phương pháp thuyết trình truyền thống.

Thứ hai, sự cải thiện vượt bậc về kỹ năng kỹ thuật thao tác đất nặn. Sau quá trình rèn luyện 7 kỹ thuật cốt lõi (xoay tròn, lăn dài, vuốt nhọn, ấn lõm, ấn dẹt, gắn nối, nắn hình), khoảng 88,9% học sinh lớp thực nghiệm đã làm chủ kỹ thuật liên kết chi tiết bằng tăm tre, trong khi lớp đối chứng ghi nhận tới 44,4% học sinh gặp tình trạng sản phẩm bị rơi gãy bộ phận khi khô.

Thứ ba, năng lực tư duy không gian và biểu cảm thẩm mỹ tăng mạnh. Tỷ lệ sản phẩm có bố cục hoạt cảnh sáng tạo và thể hiện được cảm xúc phong phú ở lớp thực nghiệm đạt 72,2%, vượt xa mức 27,8% ở lớp đối chứng vốn chỉ dừng lại ở mức sao chép mẫu phẳng của giáo viên.

Thứ tư, nhận diện điểm nghẽn về hạ tầng và thời lượng. Toàn trường có 25 phòng học kiên cố nhưng thiếu 1 phòng học bộ môn riêng; 100% tiết học bị giới hạn trong khung 35 phút khiến khoảng 55,6% học sinh ở giai đoạn đầu khảo sát không thể hoàn thiện sản phẩm ngay tại lớp.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội của nhóm thực nghiệm bắt nguồn từ việc chuyển đổi phương pháp từ "áp đặt truyền thụ một chiều" sang "lấy học sinh làm trung tâm". Việc cho học sinh đóng kịch sắm vai các trạng thái cảm xúc tương phản (vui - buồn, động - tĩnh) trước khi nặn đã kích hoạt trí tưởng tượng thị giác mạnh mẽ. So với các nghiên cứu trước đây của các nhà sư phạm mỹ thuật, kết quả này khẳng định học sinh 7 đến 8 tuổi hoàn toàn có khả năng làm chủ không gian 3D nếu được giải phóng khỏi thói quen vẽ hình phẳng.

Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ cột chồng so sánh 3 mức độ đánh giá (Hoàn thành tốt, Hoàn thành, Chưa hoàn thành) giữa 36 học sinh lớp thực nghiệm và 37 học sinh lớp đối chứng. Đồng thời, một bảng ma trận kỹ năng tổng hợp 7 thao tác nặn cơ bản sẽ minh họa rõ nét mức tăng trưởng kỹ thuật từ 50% lên trên 85%. Những phát hiện này có ý nghĩa quan trọng, chứng minh rằng việc đổi mới phương pháp sư phạm có thể xóa bỏ hoàn toàn định kiến xem Mỹ thuật là môn học phụ, khơi dậy niềm đam mê nghệ thuật tự nhiên của trẻ nhỏ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập nặn tạo dáng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cụ thể:

  1. Chuẩn hóa quy trình dạy học tích hợp 4 bước với phương pháp Đan Mạch: Giáo viên bộ môn Mỹ thuật cần chủ động thiết kế giáo án tích hợp quy trình tạo hình 3D theo chủ đề vào 4 tiết nặn chính khóa trong năm học 2017 - 2018, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh đạt mức hoàn thành tốt lên tối thiểu 80% tại 5 lớp khối 2.

  2. Quy hoạch không gian và trang bị tủ lưu trữ chuyên dụng: Ban Giám hiệu Trường Tiểu học Lê Hồng Phong cần bố trí phòng thực hành chức năng hoặc trang bị 5 tủ kính chuyên dụng tại 25 phòng học trong học kỳ 1 năm học 2017 - 2018, đảm bảo lưu trữ và bảo quản nguyên vẹn 100% sản phẩm tạo hình chưa hoàn thiện cho 181 học sinh khối 2.

  3. Cung ứng đồng bộ vật tư và đồ dùng trực quan: Ban Giám hiệu phối hợp với Ban đại diện Cha mẹ học sinh trang bị đầy đủ đất nặn màu chất lượng cao, bảng kê và que nối chuyên dụng ngay từ đầu năm học, giảm tỷ lệ học sinh thiếu đồ dùng học tập từ mức khoảng 25% xuống dưới 5% trong vòng 3 tháng đầu kỳ.

  4. Đẩy mạnh sinh hoạt chuyên môn và kỹ năng thị phạm: Tổ chuyên môn khối 2 và khối 3 (với nòng cốt là 2 giáo viên Mỹ thuật) cần duy trì sinh hoạt chuyên đề 2 lần mỗi tháng trong suốt 35 tuần học, tập trung bồi dưỡng kỹ năng thị phạm nhanh dưới 7 phút và kỹ thuật tổ chức nhóm từ 4 đến 6 học sinh nhằm phát huy trình độ sư phạm trên chuẩn hiện đạt 97%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tư liệu chuyên môn giá trị cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Giáo viên Mỹ thuật cấp tiểu học: Nắm bắt cẩm nang thực hành 7 kỹ năng nặn và phương pháp tổ chức lớp học tương tác theo dự án Đan Mạch cho 35 tuần học; ứng dụng trực tiếp để giảng dạy hiệu quả cho các lớp học có sĩ số tiêu chuẩn khoảng 36 học sinh.

  2. Cán bộ quản lý và Ban Giám hiệu trường tiểu học: Có cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực học sinh theo Thông tư 22, đồng thời lập kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất phòng bộ môn cho hệ thống 25 phòng học.

  3. Giảng viên và sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật: Sử dụng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu thực chứng về phương pháp dạy học tạo hình 3D cho 181 học sinh, phục vụ viết khóa luận và luận văn thuộc chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Mỹ thuật (mã số 60140111).

  4. Phụ huynh học sinh và giáo viên câu lạc bộ nghệ thuật: Thấu hiểu đặc điểm tâm lý lứa tuổi 7 đến 8 tuổi, từ đó đồng hành cùng con em trong việc rèn luyện tư duy tạo hình không gian 3D tại nhà hoặc tại các lớp năng khiếu thuộc Cung Thiếu nhi tỉnh Quảng Ninh.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao phân môn Tập nặn tạo dáng chỉ chiếm 4 tiết trong chương trình Mỹ thuật lớp 2?
Theo khung phân phối chương trình năm 2000 gồm 35 tuần học, phân môn nặn được bố trí 4 tiết (tiết 5, 16, 21, 29) nhằm đảm bảo sự cân đối với các phân môn vẽ tranh, trang trí và thưởng thức mỹ thuật. Dù chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 11,4%, đây là nội dung duy nhất rèn luyện tư duy không gian ba chiều cho học sinh.

Làm thế nào để học sinh hoàn thành bài nặn tạo dáng chỉ trong 35 phút?
Giáo viên cần tối ưu hóa thời gian thị phạm nhanh dưới 7 phút và tổ chức hoạt động nhóm từ 4 đến 6 học sinh. Việc phân công mỗi em nặn một bộ phận rồi gắn nối liên kết giúp 100% học sinh lớp 2 hoàn thành tác phẩm hoàn chỉnh ngay trong tiết học.

Phương pháp dạy học Mỹ thuật Đan Mạch có gì khác biệt so với cách dạy truyền thống?
Phương pháp Đan Mạch (dự án SAEPS) lấy học sinh làm trung tâm, khơi gợi cảm xúc qua hoạt cảnh và sắm vai tương phản. Thay vì bắt chước mẫu tĩnh có sẵn, học sinh được tự do thể hiện hình khối theo góc nhìn riêng, giúp tỷ lệ sáng tạo tại lớp thực nghiệm đạt trên 72%.

Cách khắc phục tình trạng các chi tiết đất nặn của học sinh lớp 2 bị gãy rời khi khô là gì?
Học sinh cần được hướng dẫn thuần thục 7 kỹ năng nặn cơ bản, đặc biệt là kỹ thuật ấn lõm và gắn nối gia cố bằng tăm tre hoặc dây thép nhỏ. Dữ liệu thực nghiệm trên 36 học sinh lớp 2A cho thấy việc làm mềm đất đúng cách giúp giảm hơn 80% sự cố gãy rụng chi tiết.

Nhà trường chưa có phòng học Mỹ thuật riêng thì tổ chức dạy nặn sao cho hiệu quả?
Khi tận dụng 25 phòng học văn hóa, giáo viên cần chuẩn bị bảng kê cá nhân và hộp bảo quản riêng cho từng tổ. Nhà trường cần trang bị tủ lưu trữ tạm thời sau mỗi buổi học để bảo quản bài tập nhiều kỳ cho 181 học sinh khối 2 phục vụ trưng bày cuối năm.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học phân môn Tập nặn tạo dáng cho 181 học sinh khối lớp 2.
  • Tích hợp thành công 5 quy trình mỹ thuật Đan Mạch với 4 bước lên lớp chuẩn mực, nâng tỷ lệ học sinh hoàn thành tốt bài tập lên 68,5%.
  • Chuẩn hóa quy trình rèn luyện 7 kỹ năng nặn cơ bản, giúp học sinh làm chủ hoàn toàn kỹ thuật tạo hình khối 3D vững chắc.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp sư phạm và hạ tầng khả thi, giải quyết triệt để khó khăn về phòng học và đồ dùng cho 25 lớp học.
  • Khẳng định giá trị của giáo dục mỹ thuật trong việc phát triển toàn diện Đức - Trí - Thể - Mỹ cho học sinh tiểu học.

Công trình của tác giả Nguyễn Thị Duyên đóng góp một giải pháp sư phạm đột phá, giải quyết triệt để những bất cập trong giảng dạy tạo hình không gian cho học sinh tiểu học. Trong năm học 2017 - 2018 và lộ trình đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, các cơ sở giáo dục cần khẩn trương áp dụng quy trình tích hợp này. Quý thầy cô và nhà quản lý hãy tham khảo ngay luận văn để nâng cao chất lượng các giờ học mỹ thuật thực hành!