Đẩy mạnh xuất khẩu lao động Việt Nam trong thời gian tới: Giải pháp và hiệu quả

Tài liệu nghiên cứu Microsoft word nag cao hqua xk ldog vn trog tgian toi, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2003

85
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

1.1. Bản chất của hoạt động xuất khẩu lao động

1.2. Sự hình thành và phát triển của thị trường hàng hoá sức lao động quốc tế

1.3. Sự cần thiết khách quan và vai trò của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam

1.3.1. Sự cần thiết khách quan phát triển hoạt động xuất khẩu lao động

1.3.2. Vai trò của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển Kinh tế – Xã hội của Việt Nam

1.4. Quy trình xuất khẩu lao động

1.5. Kinh nghiệm xuất khẩu lao động ở một số quốc gia trên thế giới

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TỚI

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về xuất khẩu lao động Việt Nam Thực trạng và tiềm năng

Xuất khẩu lao động Việt Nam đã trở thành một phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Trong hơn 20 năm qua, hoạt động này không chỉ giúp giải quyết vấn đề việc làm mà còn mang lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua để nâng cao hiệu quả của hoạt động này.

1.1. Định nghĩa và vai trò của xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động được hiểu là việc đưa người lao động từ Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài. Hoạt động này không chỉ giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp mà còn tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động và gia đình họ.

1.2. Lịch sử phát triển của xuất khẩu lao động Việt Nam

Xuất khẩu lao động Việt Nam bắt đầu từ những năm 1980, với số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài ngày càng tăng. Các thị trường chính bao gồm các nước Đông Âu, Trung Đông và gần đây là các nước châu Á.

II. Thách thức trong xuất khẩu lao động Việt Nam hiện nay

Mặc dù xuất khẩu lao động đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều thách thức. Tỷ lệ thất nghiệp cao, chất lượng lao động chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế, và các chính sách chưa đồng bộ là những vấn đề cần giải quyết.

2.1. Tình trạng thất nghiệp và nhu cầu lao động

Tỷ lệ thất nghiệp tại Việt Nam vẫn ở mức cao, đặc biệt là trong nhóm lao động trẻ. Điều này tạo ra áp lực lớn cho chính phủ trong việc tìm kiếm việc làm cho người lao động.

2.2. Chất lượng lao động và đào tạo nghề

Chất lượng lao động Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của các thị trường lao động quốc tế. Việc đào tạo nghề cần được cải thiện để nâng cao kỹ năng cho người lao động.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu lao động Việt Nam

Để nâng cao hiệu quả xuất khẩu lao động, cần có những giải pháp đồng bộ từ chính sách đến thực tiễn. Việc cải thiện chất lượng đào tạo nghề, tăng cường hợp tác quốc tế và nâng cao nhận thức của người lao động là rất cần thiết.

3.1. Cải thiện chất lượng đào tạo nghề cho lao động

Đào tạo nghề cần được chú trọng hơn, với các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động quốc tế. Các cơ sở đào tạo cần hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp để đảm bảo chất lượng.

3.2. Tăng cường hợp tác quốc tế trong xuất khẩu lao động

Hợp tác với các quốc gia có nhu cầu lao động cao sẽ giúp mở rộng thị trường cho lao động Việt Nam. Các hiệp định hợp tác cần được ký kết để bảo vệ quyền lợi cho người lao động.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về xuất khẩu lao động

Nghiên cứu cho thấy xuất khẩu lao động đã mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, cần có những đánh giá cụ thể để xác định hiệu quả thực sự của hoạt động này.

4.1. Lợi ích kinh tế từ xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động đã mang về hàng tỷ USD cho nền kinh tế, giúp cải thiện đời sống cho nhiều gia đình. Đây là nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho đất nước.

4.2. Đánh giá hiệu quả xã hội của xuất khẩu lao động

Hoạt động xuất khẩu lao động không chỉ tạo ra thu nhập mà còn góp phần giảm bớt áp lực về việc làm trong nước, tạo sự ổn định xã hội.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho xuất khẩu lao động Việt Nam

Xuất khẩu lao động Việt Nam cần được đẩy mạnh hơn nữa trong tương lai. Các chính sách cần được điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu của thị trường lao động quốc tế.

5.1. Định hướng phát triển xuất khẩu lao động trong những năm tới

Cần có chiến lược dài hạn cho xuất khẩu lao động, tập trung vào việc nâng cao chất lượng lao động và mở rộng thị trường.

5.2. Vai trò của chính sách trong phát triển xuất khẩu lao động

Chính sách cần được điều chỉnh để hỗ trợ tốt hơn cho người lao động, từ đào tạo đến bảo vệ quyền lợi khi làm việc ở nước ngoài.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề hợp tác sử dụng lao động với nước ta. Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách rất rõ ràng về vấn đề này: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1979 Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thường vụ Hội đồng Chính phủ chính thức giao cho Bộ Lao động và Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, nghiên cứu tiến hành đàm phán với một số quốc gia XHCN về trao đổi, hợp tác lao động. - Ngày 11/02/1980 hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 46/CP về việc đưa cán bộ, công nhân đi bồi dưỡng, nâng cao trình độ và làm việc có thời hạn ở các nước Xã hội Chủ nghĩa. - Ngày 29/11/1980 hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 362/CP về việc hợp tác sử dụng lao động với các nước XHCN, đáp ứng một phần yêu cầu lao động của các nước anh em, giải quyết việc làm cho một bộ phần thanh niên chưa có việc làm.

- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, trong báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế – xã hội trong 5 năm 1986 – 1990, hợp tác lao động đã được xác định là một trong 3 chương trình kinh tế lớn; mở rộng việc đưa lao động ra nước ngoài bằng nhiều hình thức thích hợp. - Chủ yếu là đưa cán bộ, công nhân viên đi bồi dưỡng, nâng cao trình độ tay nghề, nắm vững những kỹ thuật then chốt, phức tạp, tinh vi trong quy trình chế tạo sản phẩm và trong cả dây chuyền công nghệ, hoặc nắm vững những kiến thức và tay nghề cần thiết để có thể tự mình thiết kế và chế tạo những sản phẩm mới. - Phát huy mọi tiềm năng lao động và chất xám, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho Đất nước.2Kết quả xuất khẩu lao động. Trong giai đoạn này, hoạt động xuất khẩu lao động chủ yếu dựa trên quan hệ hợp tác sử dụng lao động giữa Việt Nam với các nước Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) thông qua các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiệp định Chính phủ và các thoả thuận giữa ngành với ngành.

Cơ chế xuất khẩu lao động chủ yếu dựa trên mô hình Nhà nước trực tiếp ký kết và triển khai tổ chức thực hiện đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Từ 1980 – 1990, Việt Nam đã đưa đi được 265. Trong tổng số 265.501 lao động đã đưa đi, phần lớn lao động của ta chủ yếu được đưa sang 4 nước XHCN (Liên Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc và Bungari) với tổng số lao động là: 240.301 người, trong đó có 91.955 lao động nữ, chiếm 38,26% và trong tổng số 240.301 lao động đã gửi đi chỉ có 101.084 người đã có nghề(1) chiếm 42,06%. Số lao động còn lại trước khi đi, phần lớn là không nghề(2) bằng 57,94% tổng số lao động đưa sang 4 nước này.

Ngoài số lao động gửi sang các nước XHCN, Nhà nước ta còn gửi 25.200 lao động sang làm việc ở các nước khác thuộc khu vực vùng Vịnh và Châu Phi. Tiến độ đưa lao động Việt Nam làm việc tại các nước XHCN được thể hiện qua bảng số (1) dưới đây. Qua kết quả xuất khẩu lao động Việt Nam thời kỳ từ 1980 – 1990 trên đây, ta nhận thấy một số vấn đề sau: Trong giai đoạn này, mặc dù chúng ta phải đối mặt với không ít những khó khăn về kinh tế lẫn chính trị, song công tác xuất khẩu lao động và chuyên gia của chúng ta cũng đã đạt được những kết quả quan trọng bước đầu làm tiền đề xúc tiến và phát triển cho xuất khẩu lao động Việt Nam trong những năm kế tiếp. Nhìn chung, số lượng lao động Việt Nam đưa đi hàng năm theo Hiệp Định Chính phủ và các thoả thuận giữa ngành với ngành không phải là cố định.

Số lượng lao động đã được đưa đi cao nhất phải nói đến các năm 1981, 1982 và đặc biệt là các năm từ 1987 - 1989. Năm 1980 số lao động Việt Nam được đưa đi 100% là lao động có nghề, còn kể từ năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1981 – 1990 số lượng lao động không nghề đưa đi ngày một tăng lên, chiếm 57,94% trong tổng số lao động Việt Nam được đưa sang 4 nước XHCN trong cả thời kỳ. Lý do chính của tình trạng này là do yêu cầu của phía Chính phủ các nước tiếp nhận lao động Việt Nam không yêu cầu cao về trình độ tay nghề của lao động. Phần lớn các nước này phân phối ngay lao động Việt Nam vào các nhà máy, cơ sở sản xuất.

Họ tự kèm cặp, đào tạo(1) cho lao động ta để trở thành công nhân thực thụ. Đây là một đặc điểm rất đặc biệt của lao động Việt Nam khi đi làm việc ở nước ngoài kể từ trước đến nay. Nó cũng rất khác biệt so với hoạt động đưa lao động ra nước ngoài của các nước trong khu vực như Philippin, Thailand… trong cùng khoảng thời gian này. Ngoài các nước XHCN nhà nước ta còn đưa 25.200 lao động sang cả các nước khác.

Nhưng chủ yếu là tập trung ở các nước vùng Vịnh và các nước thuộc Châu Phi. Lao động đưa sang các nước vùng Vịnh là 18.000 người và Châu Phi (Libya, Angieria, Angola, Mozambiq, Congo, Madagasca) là 7. Nguồn: Cục Quản lý Lao động với nước ngoài – Bộ Lao động TB&XH. Như vậy, trong thời kỳ này thị trường xuất khẩu lao động của chúng ta tập trung chủ yếu vào thị trường các nước XHCN như trong bảng số (2) đã chỉ rõ.

Phần lớn lao động của ta đưa sang 4 quốc gia, chủ yếu tập trung ở Liên Xô và CHDC Đức. Hai quốc gia còn lại về số lượng lao động đến làm việc không lớn bằng Liên Xô và CHDC Đức, nhưng cũng cho thấy đây là hai thị trường cũng không kém phần qua trọng trong hệ thống các nước mà lao động Việt Nam được đưa đến lao động. Về độ tuổi của số lao động trên khi gửi đi, theo quy định là từ 18 – 40 tuổi. Đây được coi là độ tuổi có nhiều khả năng tốt về thể lực, trí lực và năng lực làm việc khi đi lao động ở nước ngoài.

Thực tế cho thấy, ở một số nước có xuất khẩu lao động, họ cũng lựa chọn lao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động trong độ tuổi này để đưa đi. Do đó, sau khi kết thúc thời hạn lao động trở về, người lao động vẫn còn có thể tiếp tục tái xuất hoặc làm việc ở trong nước tuỳ theo khả năng của mình. Có thể thấy rằng, cơ cấu ngành nghề ở 4 quốc gia trên tương đối đa dạng, nhưng chưa mang tính đa dạng về loại, nhóm lao động. Việc làm của lao động Việt Nam đảm trách có tới hơn 90% là lao động giản đơn, chủ yếu là lao động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng.

Tuy nhiên cơ cấu ngành nghề này không phải do lao động Việt Nam được đào tạo từ trong nước, mà phần lớn là do các nước tiếp nhận lao động của ta tự kèm cặp, đào tạo và sử dụng cho đến khi kết thúc thời hạn lao động. Chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, lao động có nghề của ta chỉ chiếm 42,06% và số lao động không nghề chiếm tới 57,94% so với tổng số lao động đưa đi. Như vậy, qua kết quả xuất khẩu lao động Việt Nam trong thời kỳ này đã cho thấy, chất lượng lao động xuất khẩu của ta đã được nâng lên rõ rệt, điều này được thể hiện qua kết quả xuất khẩu tăng dần từng năm, khẳng định lao động Việt Nam đã có thể đáp ứng nhu cầu về lao động của nước tiếp nhận trong nhiều lĩnh vực.1Chủ trương và mục tiêu. Cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, các nước XHCN ở Đông Âu tiếp nhận lao động của ta đều xảy ra những biến động lớn về chính trị, kinh tế xã hội.

Nhiều nước ở Châu Phi có lao động Việt Nam làm việc cũng gặp khủng hoảng kinh tế xã hội và chính trị, còn ở Trung Đông lại phải đối đầu với cuộc chiến tranh Iraq. Vì vậy mà hầu hết các nước này không còn nhu cầu tiếp nhận lao động Việt Nam, thậm chí có tiếp nhận nhưng đứt quãng và số lượng cũng không đáng kể. Trước những biến động bất ổn đó, để có thể tiếp tục duy trì và phát triển xuất khẩu lao động, Chính phủ đã khẳng định: phải tiếp tục mở rộng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp tác quan hệ quốc tế, trong đó hợp tác về xuất khẩu lao động vẫn được coi như là một ngành kinh tế mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia. Chủ trương.

Mở rộng và hướng xuất khẩu lao động sang các nước trong khu vực và trên thế giới, đưa lao động Việt Nam ra nước ngoài bằng nhiều hình thức thích hợp, coi đó là một bộ phận hữu cơ của chương trình lao động việc làm quốc gia. - Ngày30/6/1988 Hội đồng Bộ trưởng đã ra Chỉ thị số 108/CT – HĐBT về việc mở rộng hợp tác lao động, là một nhiệm vụ kinh tế quan trọng, có ý nghĩa chiến lược lâu dài. - Ngày 20/01/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 07/NĐ - CP đã khảng định: Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là một hướng giải quyết đúng đắn… Mục tiêu. Nhằm duy trì xuất khẩu lao động, phát huy mọi tiềm năng lao động và chất xám, giải quyêt việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho Đất nước.2Kết quả xuất khẩu lao động.

Khác với thời kỳ đầu, cơ chế xuất khẩu lao động Việt Nam trong thời kỳ này đã được đổi mới, trong đó phân định rõ chức năng quản lý của nhà nước và chức năng kinh doanh dịch vụ xuất khẩu lao động. Nhà nước thống nhất xuất khẩu lao động bằng các chính sách và quy định pháp lý. Các tổ chức kinh tế được nhà nước cấp giấy phép thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ xuất khẩu lao động thông qua các hợp đồng ký kết với bên nước ngoài. Do vậy mà khắc phục được những khó khăn và đạt được một số kết quả khích lệ bước đầu và điều này được thể hiện rõ qua bảng số (4) kết quả xuất khẩu lao động dưới đây.

Nguồn: Cục Quản lý Lao động với nước ngoài – Bộ Lao động TB&XH. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ