đặt vấn đề hợp tác sử dụng lao động với nước ta. Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách rất rõ ràng về vấn đề này: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1979 Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thường vụ Hội đồng Chính phủ chính thức giao cho Bộ Lao động và Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, nghiên cứu tiến hành đàm phán với một số quốc gia XHCN về trao đổi, hợp tác lao động. - Ngày 11/02/1980 hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 46/CP về việc đưa cán bộ, công nhân đi bồi dưỡng, nâng cao trình độ và làm việc có thời hạn ở các nước Xã hội Chủ nghĩa. - Ngày 29/11/1980 hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 362/CP về việc hợp tác sử dụng lao động với các nước XHCN, đáp ứng một phần yêu cầu lao động của các nước anh em, giải quyết việc làm cho một bộ phần thanh niên chưa có việc làm.
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, trong báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế – xã hội trong 5 năm 1986 – 1990, hợp tác lao động đã được xác định là một trong 3 chương trình kinh tế lớn; mở rộng việc đưa lao động ra nước ngoài bằng nhiều hình thức thích hợp. - Chủ yếu là đưa cán bộ, công nhân viên đi bồi dưỡng, nâng cao trình độ tay nghề, nắm vững những kỹ thuật then chốt, phức tạp, tinh vi trong quy trình chế tạo sản phẩm và trong cả dây chuyền công nghệ, hoặc nắm vững những kiến thức và tay nghề cần thiết để có thể tự mình thiết kế và chế tạo những sản phẩm mới. - Phát huy mọi tiềm năng lao động và chất xám, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho Đất nước.2Kết quả xuất khẩu lao động. Trong giai đoạn này, hoạt động xuất khẩu lao động chủ yếu dựa trên quan hệ hợp tác sử dụng lao động giữa Việt Nam với các nước Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) thông qua các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiệp định Chính phủ và các thoả thuận giữa ngành với ngành.
Cơ chế xuất khẩu lao động chủ yếu dựa trên mô hình Nhà nước trực tiếp ký kết và triển khai tổ chức thực hiện đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Từ 1980 – 1990, Việt Nam đã đưa đi được 265. Trong tổng số 265.501 lao động đã đưa đi, phần lớn lao động của ta chủ yếu được đưa sang 4 nước XHCN (Liên Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc và Bungari) với tổng số lao động là: 240.301 người, trong đó có 91.955 lao động nữ, chiếm 38,26% và trong tổng số 240.301 lao động đã gửi đi chỉ có 101.084 người đã có nghề(1) chiếm 42,06%. Số lao động còn lại trước khi đi, phần lớn là không nghề(2) bằng 57,94% tổng số lao động đưa sang 4 nước này.
Ngoài số lao động gửi sang các nước XHCN, Nhà nước ta còn gửi 25.200 lao động sang làm việc ở các nước khác thuộc khu vực vùng Vịnh và Châu Phi. Tiến độ đưa lao động Việt Nam làm việc tại các nước XHCN được thể hiện qua bảng số (1) dưới đây. Qua kết quả xuất khẩu lao động Việt Nam thời kỳ từ 1980 – 1990 trên đây, ta nhận thấy một số vấn đề sau: Trong giai đoạn này, mặc dù chúng ta phải đối mặt với không ít những khó khăn về kinh tế lẫn chính trị, song công tác xuất khẩu lao động và chuyên gia của chúng ta cũng đã đạt được những kết quả quan trọng bước đầu làm tiền đề xúc tiến và phát triển cho xuất khẩu lao động Việt Nam trong những năm kế tiếp. Nhìn chung, số lượng lao động Việt Nam đưa đi hàng năm theo Hiệp Định Chính phủ và các thoả thuận giữa ngành với ngành không phải là cố định.
Số lượng lao động đã được đưa đi cao nhất phải nói đến các năm 1981, 1982 và đặc biệt là các năm từ 1987 - 1989. Năm 1980 số lao động Việt Nam được đưa đi 100% là lao động có nghề, còn kể từ năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1981 – 1990 số lượng lao động không nghề đưa đi ngày một tăng lên, chiếm 57,94% trong tổng số lao động Việt Nam được đưa sang 4 nước XHCN trong cả thời kỳ. Lý do chính của tình trạng này là do yêu cầu của phía Chính phủ các nước tiếp nhận lao động Việt Nam không yêu cầu cao về trình độ tay nghề của lao động. Phần lớn các nước này phân phối ngay lao động Việt Nam vào các nhà máy, cơ sở sản xuất.
Họ tự kèm cặp, đào tạo(1) cho lao động ta để trở thành công nhân thực thụ. Đây là một đặc điểm rất đặc biệt của lao động Việt Nam khi đi làm việc ở nước ngoài kể từ trước đến nay. Nó cũng rất khác biệt so với hoạt động đưa lao động ra nước ngoài của các nước trong khu vực như Philippin, Thailand… trong cùng khoảng thời gian này. Ngoài các nước XHCN nhà nước ta còn đưa 25.200 lao động sang cả các nước khác.
Nhưng chủ yếu là tập trung ở các nước vùng Vịnh và các nước thuộc Châu Phi. Lao động đưa sang các nước vùng Vịnh là 18.000 người và Châu Phi (Libya, Angieria, Angola, Mozambiq, Congo, Madagasca) là 7. Nguồn: Cục Quản lý Lao động với nước ngoài – Bộ Lao động TB&XH. Như vậy, trong thời kỳ này thị trường xuất khẩu lao động của chúng ta tập trung chủ yếu vào thị trường các nước XHCN như trong bảng số (2) đã chỉ rõ.
Phần lớn lao động của ta đưa sang 4 quốc gia, chủ yếu tập trung ở Liên Xô và CHDC Đức. Hai quốc gia còn lại về số lượng lao động đến làm việc không lớn bằng Liên Xô và CHDC Đức, nhưng cũng cho thấy đây là hai thị trường cũng không kém phần qua trọng trong hệ thống các nước mà lao động Việt Nam được đưa đến lao động. Về độ tuổi của số lao động trên khi gửi đi, theo quy định là từ 18 – 40 tuổi. Đây được coi là độ tuổi có nhiều khả năng tốt về thể lực, trí lực và năng lực làm việc khi đi lao động ở nước ngoài.
Thực tế cho thấy, ở một số nước có xuất khẩu lao động, họ cũng lựa chọn lao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động trong độ tuổi này để đưa đi. Do đó, sau khi kết thúc thời hạn lao động trở về, người lao động vẫn còn có thể tiếp tục tái xuất hoặc làm việc ở trong nước tuỳ theo khả năng của mình. Có thể thấy rằng, cơ cấu ngành nghề ở 4 quốc gia trên tương đối đa dạng, nhưng chưa mang tính đa dạng về loại, nhóm lao động. Việc làm của lao động Việt Nam đảm trách có tới hơn 90% là lao động giản đơn, chủ yếu là lao động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng.
Tuy nhiên cơ cấu ngành nghề này không phải do lao động Việt Nam được đào tạo từ trong nước, mà phần lớn là do các nước tiếp nhận lao động của ta tự kèm cặp, đào tạo và sử dụng cho đến khi kết thúc thời hạn lao động. Chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, lao động có nghề của ta chỉ chiếm 42,06% và số lao động không nghề chiếm tới 57,94% so với tổng số lao động đưa đi. Như vậy, qua kết quả xuất khẩu lao động Việt Nam trong thời kỳ này đã cho thấy, chất lượng lao động xuất khẩu của ta đã được nâng lên rõ rệt, điều này được thể hiện qua kết quả xuất khẩu tăng dần từng năm, khẳng định lao động Việt Nam đã có thể đáp ứng nhu cầu về lao động của nước tiếp nhận trong nhiều lĩnh vực.1Chủ trương và mục tiêu. Cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, các nước XHCN ở Đông Âu tiếp nhận lao động của ta đều xảy ra những biến động lớn về chính trị, kinh tế xã hội.
Nhiều nước ở Châu Phi có lao động Việt Nam làm việc cũng gặp khủng hoảng kinh tế xã hội và chính trị, còn ở Trung Đông lại phải đối đầu với cuộc chiến tranh Iraq. Vì vậy mà hầu hết các nước này không còn nhu cầu tiếp nhận lao động Việt Nam, thậm chí có tiếp nhận nhưng đứt quãng và số lượng cũng không đáng kể. Trước những biến động bất ổn đó, để có thể tiếp tục duy trì và phát triển xuất khẩu lao động, Chính phủ đã khẳng định: phải tiếp tục mở rộng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp tác quan hệ quốc tế, trong đó hợp tác về xuất khẩu lao động vẫn được coi như là một ngành kinh tế mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia. Chủ trương.
Mở rộng và hướng xuất khẩu lao động sang các nước trong khu vực và trên thế giới, đưa lao động Việt Nam ra nước ngoài bằng nhiều hình thức thích hợp, coi đó là một bộ phận hữu cơ của chương trình lao động việc làm quốc gia. - Ngày30/6/1988 Hội đồng Bộ trưởng đã ra Chỉ thị số 108/CT – HĐBT về việc mở rộng hợp tác lao động, là một nhiệm vụ kinh tế quan trọng, có ý nghĩa chiến lược lâu dài. - Ngày 20/01/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 07/NĐ - CP đã khảng định: Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là một hướng giải quyết đúng đắn… Mục tiêu. Nhằm duy trì xuất khẩu lao động, phát huy mọi tiềm năng lao động và chất xám, giải quyêt việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho Đất nước.2Kết quả xuất khẩu lao động.
Khác với thời kỳ đầu, cơ chế xuất khẩu lao động Việt Nam trong thời kỳ này đã được đổi mới, trong đó phân định rõ chức năng quản lý của nhà nước và chức năng kinh doanh dịch vụ xuất khẩu lao động. Nhà nước thống nhất xuất khẩu lao động bằng các chính sách và quy định pháp lý. Các tổ chức kinh tế được nhà nước cấp giấy phép thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ xuất khẩu lao động thông qua các hợp đồng ký kết với bên nước ngoài. Do vậy mà khắc phục được những khó khăn và đạt được một số kết quả khích lệ bước đầu và điều này được thể hiện rõ qua bảng số (4) kết quả xuất khẩu lao động dưới đây.
Nguồn: Cục Quản lý Lao động với nước ngoài – Bộ Lao động TB&XH. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.