CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẨY MẠNH CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP 1. Những vấn đề lý luận về cơ giới hóa nông nghiệp và quan điểm đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp 1. Khái niệm cơ giới hóa nông nghiệp Thuật ngữ “Cơ giới hóa nông nghiệp” được sử dụng rất phổ biến trong nhiều tài liệu khoa học cũng như ở các văn bản quản lý của nhà nước. Về mặt ngữ pháp, cơ giới hóa là một dạng danh động từ, nếu ở trong ngôn ngữ tiếng Anh thì nó được viết bằng cụm từ “Agricultural mechanization”.
Vậy, CGHNN là gì? Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về CGHNN đã được đưa ra từ nhiều học giả và nhà khoa học ở trong và ngoài nước, cụ thể: Theo Tổ chức FAO (1997), CGHNN được hiểu là quá trình cải thiện năng suất lao động của trang trại thông qua việc sử dụng các loại máy nông nghiệp và công cụ, dụng cụ. CGHNN liên quan đến việc cung cấp và sử dụng tất cả các nguồn năng lượng và máy móc, từ các công cụ cầm tay giãn đơn đến các loại công nghệ máy móc hiện đại. Con người, động vật và các loại phương tiện máy móc có thể bổ sung cho nhau ở trong các cơ sở sản xuất (hộ, trang trại) [76]. Cơ giới hóa được xem là một trong những thành tựu nổi bật nhất trong lịch sử phát triển nông nghiệp vào thế kỷ XX.
Chính vì thế, CGHNN là chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả và nhà khoa học, do đó cũng có nhiều định nghĩa đã được đưa ra. Clarke (1997) [41] cho rằng “CGHNN” là việc áp dụng các loại công cụ, dụng cụ và phương tiện máy móc – là những đầu vào sản xuất nông nghiệp. Có 3 nguồn cơ giới được sử dụng, đó là sức lao động của con người, gia súc kéo và máy nông nghiệp. 5 Mijinyawa và cộng sự (2006) [54] định nghĩa cơ giới hóa nông trại như là việc áp dụng không giới hạn các nguyên tắc kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, bảo quản và chế biến.
Ou và cộng sự (2002) [61] đã đưa ra khái niệm CGHNN, đó là hệ thống kỹ thuật không chỉ đòi hỏi sự phát triển và ứng dụng các loại máy móc tiên tiến mà còn hợp tác chặt chẽ nhiều thành phần tham gia. Các vấn đề môi trường, công nghiệp, xã hội và kinh tế phải được xem xét khi đầu tư vào việc áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp. Từ điển Bách khoa Nông nghiệp (2014) có giải thích cụm từ CGHNN: là việc áp dụng các loại máy móc vào sản xuất nông nghiệp với các mức độ khác nhau, từ cơ giới hóa từng công việc riêng lẻ (cày đất, gieo hạt, đập lúa) đến việc cơ giới hóa liên hoàn đồng bộ một quy trình sản xuất đối với một loại cây trồng, vật nuôi hay một sản phẩm nông nghiệp [14]. Cù Ngọc Bắc và cộng sự (2008) cho rằng, CGHNN là quá trình thay thế lao động thô sơ bằng công cụ cơ giới, động lực của con người và gia súc bằng công cụ cơ giới, lao động thủ công bằng công cụ cơ giới, thay thế phương pháp sản xuất lạc hậu bằng phương pháp khoa học [2].
Theo Nguyễn Hữu Việt (2011), CGHNN là đưa các trang thiết bị máy móc và hỗ trợ người nông dân trong sản xuất nông nghiệp, như các loại máy cày, máy gieo hạt, máy phun thuốc trừ sâu, thiết bị hỗ trợ làm cỏ lúa, máy gặt đập, máy xay xát lúa gạo, tách ngô, máy lột vỏ củ sắn (khoai mì). CGHNN sẽ góp phần đưa giá trị hàng hóa nông sản đạt chất lượng và giá thành sản phẩm sản xuất sẽ có tính cạnh tranh cao. Đề án đẩy mạnh cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp tạo động lực tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Bộ NN&PTNT có nêu rõ quan điểm: CGHNN là nội dung quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá trình hội nhập kinh tế thế giới [5]. Như vậy, theo quan điểm của tác giả: CGHNN là việc tiến hành đồng bộ về cơ sở hạ tầng, máy móc, thiết bị và điều kiện đầu tư phù hợp với quy mô, trình độ sản xuất của từng vùng; trước hết là các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, các khâu sản xuất nặng nhọc.
Quan điểm này cũng hoàn toàn dựa trên các khái niệm về CGHNN do các tác giả trước đây đã trình bày. Tuy nhiên, điểm nhấn quan trọng 6 nhất của quan điểm mà chúng tôi đưa ra là CGHNN phải được áp dụng một cách phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng, từng địa phương. Điều này rất đúng với trường hợp nền nông nghiệp của Việt Nam khi điều kiện sản xuất có sự khác biệt giữa từng địa phương, từng vùng sinh thái khác nhau. Đối với các địa phương ở miền Trung Việt Nam (trong đó có Hà Tĩnh), do xuất phát điểm thấp về trình sản xuất nên việc thực hiện CGHNN trước hết phải ưu tiên giải quyết các khâu sản xuất nặng nhọc như làm đât, thu hoạch và vận chuyển, trong đó định hướng áp dụng CGHNN là các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn.
Vai trò và đặc điểm của CGHNN 1. Vai trò của CGHNN Đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước khẳng định tầm quan trọng của việc đẩy mạnh CGHNN. Theo quan điểm của các nhà khoa học, có sự gia tăng đáng kể về cường độ canh tác do sử dụng máy kéo và thủy lợi như một hệ quả tất yếu của quá trình cơ giới hóa. Việc sử dụng các phương tiện cơ giới như máy móc thuộc quyền sở hữu của hộ (tractor-owning), thuê máy móc, và sử dụng sức kéo động vật đã làm tăng cường độ sản xuất nông nghiệp lần lượt tương ứng ở các mức 165%, 156% và 149% (NCAER, 1980) [57].
Một kết quả nghiên cứu tương tự của Patil & Sirohi (1987) đã kết luận rằng áp dụng CGHNN (thủy lợi và máy nông nghiệp) đã gia tăng cường độ sản xuất. Singh (2001) [66] thì cho rằng việc gia tăng cường độ sản xuất trong nông nghiệp chủ yếu là do tác động của sự sẵn có về nguồn nước thủy lợi và phương tiện cơ giới. Vai trò của CGHNN cũng đã được ghi nhận đó là làm gia tăng sức sản xuất cùng với sự phát triển hệ thống tưới tiêu, đầu vào sinh học và hóa học, giống năng suất cao, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Điều này đã được chứng minh qua cuộc Cách mạng xanh tại Ấn Độ - một trong những thành tựu vĩ đại nhất trong lịch sử của thế kỷ XX (Madras, 1975) [53], đó là thúc đẩy mạnh mẽ việc áp dụng cơ giới trên quy mô lớn tại các trang trại nhỏ, vừa và lớn của Ấn Độ.
CGHNN là một trong những tiền đề quan trọng để mở rộng quy mô sản xuất. Chisango và ctv (2010) [45] cho rằng, CGHNN được xem như một loại thuốc chữa bách bệnh cho nền nông nghiệp của Zimbabwe bằng việc thực hiện các chính sách phát triển hợp lý vào cuối thế kỷ XX. Trong khi đó, Nweke (1978) [59] cho rằng việc áp dụng các loại máy kéo trong sản xuất nông nghiệp đã giúp tăng quy mô sản xuất (chủ yếu là sự mở rộng về diện tích canh tác) và hiệu quả kinh tế ở Ghana. Theo 7 Binswanger (1986) [36], CGHNN bao hàm việc sử dụng nhiều nguồn lực và cải thiện các loại nông cụ và trang thiết bị sản xuất của trang trại nhằm giảm sự nhàm chán của công việc đồng áng mang tính tuyền thống trước đây, đồng thời nâng cao năng suất nông nghiệp với chi phí thấp nhất.
Ghi nhận thực tế này, Chatizwa và Khumalo (1996) [39] cho rằng việc sử dụng các phương tiện máy móc trong nông nghiệp vào khoảng từ 2 đến 3 thập kỷ của thế kỷ XX đã làm gia tăng diện tích sản xuất và được chứng minh là một lao động có sử dụng máy móc có thể hoàn thành việc làm đất 10ha/ngày. Bello (2012) [65] cho rằng việc áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp góp phần sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu vào, cụ thể là tăng năng suất lao động; tăng năng suất đất đai và giảm chi phí sản xuất. Bên cạnh việc làm giảm mức độ nặng nhọc của lao động và chi phí sản xuất, CGHNN còn làm tăng thu nhập thông qua cải thiện năng suất và chất lượng trên một đơn vị diện tích (ha) hoặc mở rộng diện tích canh tác. CGHNN luôn gắn liền với sự tăng trưởng của sản xuất nông nghiệp, nhiều loại máy móc thiết bị cũng đã được đưa vào sử dụng trong sản xuất nông nghiệp để thay thế lao động thủ công, giải quyết khâu lao động nặng nhọc, tính thời vụ, giảm tổn thất trong nông nghiệp.
Tác giả Bùi Văn Tới (2012) cho rằng, việc áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp sẽ làm giảm chi phí đầu vào, tăng chất lượng sản phẩm, góp phần tăng lợi nhuận so với không áp dụng cơ giới hóa [26]. Ngoài ra, áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp sẽ giải quyết được tình trạng thiếu lao động nông nghiệp do nguồn lao động từ lĩnh vực nông nghiệp di chuyển sang lĩnh vực phi nông nghiệp [26]. Đặc điểm của CGHNN Đối tượng trong sản xuất nông nghiệp là các loại cây trồng vật nuôi (cơ thể sống) với sự đa dạng về chủng loại có đặc điểm sinh trưởng và phát triển khác nhau, đồng thời được bố trí ở những vùng sinh thái sản xuất khác nhau, do đó cơ giới hóa bị chi phối bởi đối tượng sản xuất nông nghiệp – một trong những đặc điểm sản xuất đặc trưng trong lĩnh vực nông nghiệp. Điều này có nghĩa là việc áp dụng cơ giới hóa sẽ khác nhau gữa từng loại cây trồng, vật nuôi hoặc cũng có thể khác nhau trong cùng một loại cây trồng, vật nuôi do điều kiện sinh thái khác nhau.
Nhận định về đặc điểm này trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, các nhà khoa học tại Hội thảo “Đẩy mạnh CGHNN và công nghiệp chế tạo máy nông nghiệp” (được tổ chức tại Hà Nội ngày 22/09/2016) cho rằng, tỷ lệ cơ giới hóa còn chênh lệch giữa cây lúa và các cây trồng khác, khiến khả năng cạnh 8 tranh của nông sản nguyên liệu (mía, ngô, sắn, rau củ…) bị hạn chế. Bên cạnh đó, mức độ cơ giới hóa không đồng đều giữa các vùng miền, địa bàn, còn rất thấp ở những vùng cao, vùng đồng bào dân tộc, khu vực nhà vườn, sản xuất hộ nhỏ, khiến năng suất lao động, năng suất nông nghiệp chung của cả nước còn thấp.