phần mở đầu, kết luận và 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức của học sinh trong dạy học vật lý. Chƣơng 2: Tổ chức dạy học chƣơng “Dòng điện trong các môi trƣờng” Vật lí 11 cơ bản theo hƣớng phát triển năng lực vận dụng kiến thức của học sinh miền núi. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm.
3 download by : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 1. Mục tiêu của giáo dục phổ thông Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con ngƣời Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tƣ cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, mục tiêu giáo dục không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức, kỹ năng có sẵn cho học sinh mà điều đặc biệt quan trọng là phải bồi dƣỡng cho họ năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, để từ đó có thể sáng tạo ra những tri thức mới, phƣơng pháp mới, cách giải quyết vấn đề mới, góp phần làm giàu thêm nền kiến thức của nhân loại. Năng lực vận dụng kiến thức của học sinh THPT miền núi 1.
Năng lực Năng lực trong bối cảnh giáo dục thể hiện những nhu cầu và nguyện vọng, tăng cƣờng mối liên hệ giữa thị trƣờng lao động và giáo dục. Một ngƣời có năng lực là ngƣời hành động phù hợp. Hành động của một con ngƣời có năng lực phụ thuộc vào khả năng tích luỹ, khả năng thích ứng của họ. Năng lực của cá nhân là sự tổng hoà của kiến thức, kĩ năng, thái độ và kinh nghiệm.
Năng lực hiểu theo nghĩa rộng là tài năng, năng khiếu, năng lực cũng đƣợc hiểu nhƣ kỹ năng, kỹ xảo thực hiện đƣợc một hoạt động nào đó. Trong khoa học tâm lý học, ngƣời ta coi năng lực là những thuộc tính tâm lý riêng của cá nhân, nhờ những thuộc tính tâm lý này mà con ngƣời hoàn thành tốt đẹp một loại hoạt động nào đó, mặc dù phải bỏ ra ít sức lao động nhƣng vẫn đạt kết quả cao. - Năng lực là “Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lƣợng cao”. Coolahan (UB châu Âu 1996, p 26) cho rằng: năng lực đƣợc xem nhƣ là “những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hƣớng của một con ngƣời đƣợc phát triển thông qua thực hành GD”.
Theo GS Đinh 4 download by : skknchat@gmail.com Quang Báo “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức kiến thức, kỹ năng và thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả yêu cầu một hoạt động trong bối cảnh nhất định của người học” Có thể thấy dù cách phát biểu (câu chữ) có khác nhau, nhƣng các cách hiểu trên đều khẳng định: nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm , chứ không chỉ biết và hiểu. Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống. Năng lực là một cấu trúc động (trừu tƣợng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng,. mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội.
thể hiện ở tính sẵn sàng hành động trong những điều kiện thực tế, hoàn cảnh thay đổi. 3] Phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp. Kết quả phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại. Nhìn chung, có thể thấy có hai loại năng lực chính: Đó là những năng lực chung và năng lực cụ thể, chuyên biệt.
Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con ngƣời có thể sống và làm việc bình thƣờng trong xã hội. Năng lực này đƣợc hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học. Vì thế có nƣớc gọi là năng lực xuyên chương trình. Hội đồng châu Âu gọi là năng lực chính (key competence).
Cũng cần lƣu ý là khái niệm năng lực chính đƣợc nhiều nƣớc trong khối EU sử dụng với các thuật ngữ khác nhau nhƣ: năng lực nền tảng (socles de compétences), năng lực chủ yếu (essential competencies), kĩ năng chính (key skills), kĩ năng cốt lõi (core skills), năng lực cơ sở (basic competencies), khả năng/phẩm chất chính; (key qualifications); Kĩ năng chuyển giao được (key transferable skills ),… Theo quan niệm của EU, mỗi năng lực chung cần: a) Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng; b) Giúp cho các cá nhân đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; c) Chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhƣng rất quan trọng với tất cả mọi ngƣời. Năng lực cụ thể, chuyên biệt là năng lực riêng đƣợc hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn học nào đó; vì thế CT Québec gọi là năng lực môn học cụ thể (Subject- specific competencies) để phân biệt với năng lực xuyên CT- năng lực chung. 5 download by : skknchat@gmail.com Sáng tạo và đọc diễn cảm là ví dụ để phân biệt hai loại năng lực này. Sáng tạo là năng lực chung.
Nó là sản phẩm của tất cả các môn học/hoạt động và đòi hỏi vận dụng ở tất cả các môn học/hoạt động; còn đọc diễn cảm là năng lực riêng, năng lực do môn tiếng Việt và văn học đảm nhận. Trong cuộc sống rất cần năng lực sáng tạo; không sáng tạo thì không thể phát triển, thậm chí khó tồn tại. Nhƣng không đọc diễn cảm đƣợc thì cũng không có gì ảnh hƣởng lớn. Chƣa ai chết vì không đọc đƣợc diễn cảm.
Để nhận diện năng lực chung Hội đồng châu Âu đƣa ra ba tiêu chí: Thứ nhất là khả năng hƣũ ích của năng lực ấy đối với tất cả các thành viên cộng đồng. Chúng phải liên quan đến tất cả mọi ngƣời, bất chấp giới tính, giai cấp, nòi giống, văn hoá, ngôn ngữ và hoàn cảnh gia đình. Thứ hai: nó phải tuân thủ (phù hợp) với các giá trị đạo đức, kinh tế văn hoá và các quy ƣớc xã hội. Thứ ba:nhân tố quyết định là bối cảnh, trong đó các năng lực cơ bản sẽ đƣợc ứng dụng (thực hiện).
Mặc dù cùng xuất phát từ các yếu tố trên, nhƣng việc xác định hệ thống năng lực chung cho mỗi nƣớc lại hết sức đa dạng, phong phú. Thống kê gần đây của 11 nƣớc theo hƣớng tiếp cận năng lực, đã có 35 năng lực khác nhau. Tuy nhiên từ thống kê này, có thể thấy một số năng lực (NL) chung đƣợc khá nhiều nƣớc đề xuất/lựa chọn. Cụ thể là 8 năng lực sau đây: 1.
Tƣ duy phê phán, tƣ duy logic 2. Giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ 3. Tính toán , ứng dụng số 4. Làm việc nhóm - quan hệ với ngƣời khác 6.
Công nghệ thông tin - truyền thông (ICT) 7. Sáng tạo, tự chủ 8. Giải quyết vấn đề - Năng lực cụ thể, năng lực chuyên biệt là năng lực riêng đƣợc hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn học nào đó. Vì thế ngƣời ta gọi là năng lực môn học cụ thể.
Năng lực này đƣợc xác định dựa vào đặc điểm của từng môn học cụ thể. Thí dụ: Trong dạy học Vật lý, ngoài các năng lực mà dạy học vật lý cũng góp phần phát triển nhƣ năng lực GQVĐ, năng lực tƣ duy còn có những năng lực riêng nhƣ năng lực quan sát, năng lực thí nghiệm, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế sản xuất và đời sống. 6 download by : skknchat@gmail.com Khi xác định hệ thống năng lực cần trang bị cho HS, bao giờ cũng nêu rõ nội dung mỗi năng lực, tức là trả lời câu hỏi: năng lực này là gì? Chẳng hạn năng lực tư duy đƣợc chƣơng trình Úc giới thuyết nhƣ sau: “Năng lực tư duy đƣợc xem là trình độ vận dụng hoạt động trí tuệ, nó rất đa dạng trong việc sử dụng thông tin để đạt kết quả. Năng lực tƣ duy bao gồm các yếu tố nhƣ giải quyết vấn đề, ra những quyết định, tư duy phê phán, phát triển lập luận và sử dụng các chứng cớ chứng minh cho lập luận của mình.
Năng lực tƣ duy là cốt lõi của nhiều hoạt động trí tuệ. Năng lực vận dụng kiến thức của HS - Xây dựng bảng mục tiêu dạy học [22, tr. 74-77] (tham khảo phụ lục 1) - Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống. Năng lực là một cấu trúc động (trừu tƣợng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng,.
mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội. thể hiện ở tính sẵn sàng hành động trong những điều kiện thực tế, hoàn cảnh thay đổi. 3] - Năng lực của HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ. phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống.
3] - Vận dụng là “Đem tri thức lí luận vào thực tiễn”, thực tiễn là “những hoạt động của con ngƣời, trƣớc hết là lao động sản suất, nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của con ngƣời”. [16] - Năng lực vận dụng kiến thức là khả năng của bản thân ngƣời học tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng, áp dụng kiến thức đã lĩnh hội vào những tình huống, những hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó. Năng lực vận dụng kiến thức thể hiện phẩm chất, nhân cách của con ngƣời trong qua trình hoạt động để thoả mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức.