đặt vấn đề học tập 3 Tự đánh giá và điều 9. Tự nhận ra và điều chỉnh quá trình học tập chỉnh việc học 10. Suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm và điều chỉnh cách học trong tình huống mới 1. Một số lí thuyết học tập định hướng phát triển năng lực tự học Các lý thuyết học tập là những mô hình lí thuyết nhằm mô tả và giải thích cơ chế tâm lí của việc học, đặt cơ sở lí thuyết cho lý luận dạy học trong việc tổ chức quá trình và PPDH.
Các li thuyết học tập đều tập trung vào câu hỏi “việc học tập diễn ra theo những cơ chế tâm lí nào? Có nhiều lí thuyết học tập khác nhau giải thích cơ chế tâm lí của việc học tập. Tuy nhiên trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn lí thuyết hoạt động (HĐ), lí thuyết nhận thức và lí thuyết kiến tạo là cơ sở, định hướng để chúng tôi tiếp cận đề xuất những biện pháp phát triển NLTH của HS. Lí thuyết hoạt động Sự xuất hiện của lí thuyết HĐ và vận dụng nó vào dạy học được coi là một cuộc cách mạng. Các đại diện của trường phái này là L.
Lí thuyết HĐ được phát triển từ gốc quan điểm triết học duy vật biện chứng về HĐ thực tiễn của con người. HĐ là phạm trù công cụ của triết học Mác – Lênin. Nó hiện diện trong các KN thực tiễn như: HĐ lao động, sản xuất; HĐ chính trị, …[46] Theo lí thuyết này, HĐ là một phương thức tồn tại và phát triển của con người. Con người tác động vào thế giới, làm biển đổi thế giới và bản thân bằng HĐ.
Đó là quá trình chuyển hóa NL lao động và các phẩm chất tâm lí khác của bản thân vào sự vật, vào thực tế và quá trình ngược lại là quá trình tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay trở về với chủ thể, biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể [28], [31], [45]. Vậy là, thông qua HĐ, cá nhân cải tạo và sáng tạo ra thế giới nhưng đồng thời cũng cải tạo, sáng tạo và điều chỉnh chính bản thân mình. Trong quá trình dạy học, HĐ của người học đóng vai trò quan trọng. HĐ học có chủ thể là người học; Đối tượng của HĐ học là tri thức, kĩ năng tương ứng với nó; Mục đích của HĐ học là chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng của xã hội; Phương tiện của HĐ học chính là những tri thức về bản thân HĐ học, là các tài liệu, sách, báo, bài giảng, … HĐ học khác với các HĐ khác ở chỗ HĐ không làm thay đổi đối tượng (khách thể) của HĐ mà làm thay đổi chính chủ thể người học [28].
Như vậy, trong dạy học mỗi nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết đến các HĐ học của HS do đó để dạy học đạt hiệu quả GV cần thiết kế và tổ chức các HĐ học của HS cụ thể là phát huy vai trò TH để HS tự chiếm lĩnh kiến thức trên cơ sở có sự hướng dẫn của GV. Lí thuyết nhận thức Lí thuyết nhận thức (Cognitivism) ra đời vào những năm 1920 và phát triển mạnh trong nửa sau của thế kỉ XX. Nhà tâm lí học người Áo Jeans Piaget là một đại diện lớn của thuyết này [3]. Những quan niệm cơ bản của thuyết nhận thức là: - Quá trình nhận thức bên trong là quá trình xử lí thông tin.
Bộ não xử lí các thông tin tương tự như một hệ thống kĩ thuật. - Quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc và có ảnh hưởng quyết định đến hành vi. Con người tiếp thu các thông tin bên ngoài, xử lí và đánh giá chúng, từ đó quyết định các hành vi ứng xử. - Các hoạt động nhận thức như: nhận biết, phân tích và hệ thống hóa, tái hiện, giải quyết vấn đề,.
- Cấu trúc nhận thức không phải do bẩm sinh mà hình thành qua kinh nghiệm và muốn thay đổi nhận thức của con người cần có sự tác động phù hợp. - Con người có thể tự điều chỉnh quá trình nhận thức: tự đặt mục đích, xây dựng kế hoạch và thực hiện, tự đánh giá. Mô hình học tập theo thuyết nhận thức được thể hiện qua sơ đồ 1.1 như sau: Bộ não là hệ thống xử lí thông tin Đầu ra Đầu vào Phản hồi được mô hình hóa Sơ đồ 1. Mô hình học tập theo thuyết nhận thức (Baumgartner, 2002) Theo thuyết nhận thức, quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc, và có ảnh hưởng quyết định đến hành vi.
Mục đích của dạy học là tạo ra những khả năng để người học hiểu thế giới thực (khách quan). Vì vậy, để đạt được các mục tiêu học tập, không chỉ kết quả học tập mà quá trình học tập và quá trình tư duy là điều quan trọng. Giải quyết vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy. Các quá trình tư duy được thực hiện không chỉ thông qua các vấn đề nhỏ, mà thông qua việc đưa ra các nội dung học tập lớn và phức hợp.
Cần có sự kết hợp thích hợp giữa nội dung do GV truyền đạt và những nhiệm vụ tự lực chiếm lĩnh và vận dụng tri thức của người học. Ngày nay những kết quả nghiên cứu của các lý thuyết nhận thức được vận dụng trong quá trình dạy học nhằm phát triển khả năng nhận thức của người học, đặc biệt là phát triển tư duy. Do vậy, nhiệm vụ của GV là tạo ra môi trường học tập thuận lợi, thường xuyên khuyến khích các quá trình tư duy, người học cần được tạo cơ hội hành động và tư duy tích cực. Tuy nhiên việc dạy học nhằm phát triển tư duy, giải quyết vấn đề, dạy học khám phá đòi hỏi nhiều thời gian và đòi hỏi cao ở sự chuẩn bị cũng như năng lực của GV.
Lí thuyết kiến tạo Theo Đại từ điển tiếng Việt, “kiến tạo” có nghĩa là “xây dựng nên”. Kiến tạo là động từ chỉ HĐ của con người tác động lên một hoặc một số đối tượng nhằm tạo nên một đối tượng mới theo nhu cầu của bản thân [82]. Lí thuyết kiến tạo được giới thiệu vào những năm 80 của thế kỉ XX. Cho đến nay, nó đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu và hình thành nhiều quan điểm khác nhau: Theo Brandt: “Lí thuyết kiến tạo là một lí thuyết dạy học dựa trên cơ sở nghiên cứu quá trình học tập của con người và cho rằng mỗi cá nhân tự xây dựng nên tri thức của riêng mình, không chỉ đơn thuần là tiếp thu kiến thức từ người khác” (trích theo [47]).
Theo Brooks: “Quan điểm về kiến tạo trong dạy học khẳng định rằng người học cần phải tạo nên những hiểu biết về thế giới bằng cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào trong những cái mà họ đã có từ trước đó. Người học thiết lập nên những qui luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hệ tương tác với những chủ thể và ý tưởng” [86]. Bàn luận về kiến tạo, một số tác giả khác cho rằng: Học tập là quá trình người học xây dựng kiến thức cho bản thân bằng cách thích nghi với môi trường sinh ra những mâu thuẫn, những khó khăn. Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng các tác giả đều cho rằng dạy học phải là khuyến khích người học tự xây dựng kiến thức cho mình dựa trên những kinh nghiệm của bản thân và vận dụng vào môi trường học tập, nghĩa là nhấn mạnh đến vai trò chủ động, sáng tạo của người học chứ không phải tiếp nhận từ môi trường một cách thụ động.
Việc học của mỗi cá nhân là trung tâm của tiến trình dạy học, kiến thức được xây dựng và ứng dụng thống nhất với các thực nghiệm mang tính cá nhân, phù hợp trong tổng thể đã có. Một số phương pháp và mô hình dạy học định hướng phát triển năng lực tự học của học sinh 1. Phương pháp dạy học theo hợp đồng 1. Khái niệm dạy học theo hợp đồng Dạy học theo hợp đồng là cách tổ chức học tập, trong đó mỗi HS (hoặc mỗi nhóm nhỏ) làm việc với một gói các nhiệm vụ khác nhau (nhiệm vụ bắt buộc và tự chọn) trong một khoảng thời gian nhất định.
Trong học theo hợp đồng, học sinh được quyền chủ động xác định thời gian và thứ tự thực hiện các bài tập, nhiệm vụ học tập dựa trên năng lực và nhịp độ học tập của mình [5] [42]. Quy trình thực hiện dạy học theo hợp đồng Theo tài liệu [5], quy trình dạy học theo hợp đồng gồm hai giai đoạn: a. Giai đoạn 1: Chuẩn bị Bước 1. Xem xét các yếu tố cần thiết để học theo hợp đồng đạt hiệu quả - Lựa chọn nội dung học tập phù hợp: Tùy theo môn học, dạng bài học, GV cần cân nhắc xác định những nội dung học tập sao cho việc áp dụng dạy học hợp đồng có hiệu quả hơn so với việc sử dụng phương pháp dạy học khác.
- Xác đinh thời gian học theo hợp đồng: Thời gian học theo hợp đồng tùy thuộc nội dung học tập. Đối với những HS có nhịp độ học chậm hơn có thể hoàn thành các nhiệm vụ bắt buộc trên lớp còn các nhiệm vụ tự chọn có thể thực hiện ngoài giờ học hoặc ở nhà. Thiết kế bản hợp đồng học tập và nhiệm vụ học tập Căn cứ vào nội dung, thời gian học tập và điều kiện cụ thể, GV có thể thiết kế dạng hợp đồng phù hợp sao cho HS có thể tìm hiểu dễ dàng và thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập và hợp tác. Trong hợp đồng thường là các dạng bài tập (BT) và các nhiệm vụ.
- Các BT: Một hợp đồng luôn phải đảm bảo tính đa dạng của các bài tập. Không phải HS nào cũng có cách học tập và các nhu cầu giống nhau. Sự đa dạng bài tập sẽ đảm bảo rằng trong mỗi hợp đồng, tất cả các phương pháp học tập của mỗi HS đều được đề cập. - Các nhiệm vụ: Có thể phân chia thành nhiều loại nhiệm vụ học theo hợp đồng nhằm đáp ứng các mục tiêu giáo dục.
Ví dụ: Nhiệm vụ bắt buộc và tự chọn; nhiệm vụ mang tính học tập và nhiệm vụ có tính giải trí; nhiệm vụ cá nhân và nhiệm vụ hợp tác; nhiệm vụ độc lập và nhiệm vụ được hướng dẫn. Giai đoạn 2: Tổ chức cho HS học theo hợp đồng Bước 1. Giới thiệu tên bài học và hợp đồng học tập GV thông báo ngắn gọn các nội dung, phương pháp học tập được ghi trong hợp đồng. Giới thiệu và thống nhất các nguyên tắc DHHĐ với HS cả lớp.
Phát hợp đồng cho cá nhân hoặc nhóm HS.