Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC DẠY HỌC HỢP TÁC NHÓM NHỎ 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Trên thế giới Ø Với dạy học theo nhóm Lịch sử phát triển của giáo dục cho thấy dạy học theo nhóm đã được quan tâm, xây dựng và vận dụng từ rất sớm, nhưng có thể nói nó chính thức được phát triển ở phương Tây.
Dạy học theo nhóm chính thức bắt đầu được áp dụng ở Đức cũng như ở Pháp vào thế kỷ 18. Ở Anh, vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, dạy học theo nhóm được sử dụng dưới hình thức dạy học hướng dẫn viên, được gọi là hính thức dạy học tương trợ, do linh mục Bel và giáo viên D. Lancaster đề ra và sau đó được nhà giáo dục học Girar phát triển với sắc thái khác [2, tr. Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, với việc xây dựng kiểu “nhà trường hoạt động”, vấn đề học tập cộng đồng đã được nhiều nhà giáo dục học, tâm lý học phương Tây chú ý nghiên cứu.
Deway đã chú ý phát triển hình thức học tập theo nhóm. Theo ông, môi trường có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển nhân cách trẻ, do đó càng tạo cho trẻ một môi trường gần với đời sống càng tốt. Một trong số môi trường đó là môi trường làm việc chung. Nó sẽ tạo cho trẻ có thói quen trao đổi kinh nghiệm, có cơ hội phát triển lí luận.
Lý thuyết học tập nhóm của ông được xây dựng trên quan điểm đó.165] Sau này, Roger Cousinet, nhà giáo dục người Pháp, một phần chịu ảnh hưởng của nhà xã hội học người Đức – F. Durkheim và tư tưởng giáo dục của J. Deway, với nhận định giáo dục như là một phương thức để xã hội hóa và phải tổ chức nhà trường trở thành một môi trường mà người học có thể sống được trong đó, nên ông đã chủ trương rằng sự làm việc chung thành từng nhóm sẽ là giải pháp thỏa đáng về mặt sư phạm. Ông đã nghiên cứu một cách cụ thể về ý nghĩa 6 Luan van của hình thức học tập theo nhóm, cơ cấu của nhóm, đặc điểm của nhóm học tập, cách sử dụng nhóm học tập để đạt được hiệu quả.
Dạy học theo nhóm sau này đã được Peter Peterson, Dottreu (Thụy Sĩ), Elsa Kohler (Áo), A. Jakul (Ba Lan), Kotov (Nga) và những nhà giáo dục khác nghiên cứu, vận dụng và phát triển. Sau đó việc dạy học với hình thức này được sử dụng rất phổ biến ở các nước phương Tây. Tiếp sau đó, tại Mỹ, hai tác giả là Francis J.
Hiekerson và John Middleton đã nghiên cứu và đề ra 24 phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực, gồm có các phương pháp như tấn công trí não, thảo luận, nghiên cứu trường hợp, đóng vai, đàm thoại, làm việc theo nhóm,. Trong đó, thảo luận được xem là hình thức cơ bản của dạy học theo nhóm. Hiện nay, dạy học theo nhóm vẫn tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện các kết quả lý luận, từ đó làm cơ sở cho việc vận dụng có hiệu quả hơn trong thực tiễn dạy học đại học nói riêng và dạy học nói chung. Ø Với dạy học hợp tác Tư tưởng về dạy và học hợp tác đã có từ rất sớm nhưng các quan điểm chính thức thì xuất phát từ nước Mỹ.
Có thể nói John Deway là người đầu tiên khởi xướng chiến lược này trong các trường học ở Mỹ vào những năm đầu thế kỷ 20, cùng với chủ trương dân chủ hóa trong giáo dục nhằm phát huy khả năng, sở trường của người học. Deway việc “trẻ cùng nhau lập kế hoạch cho các dự án của mình, và việc thực hiện các dự án đó dựa trên sự phân bố lao động mang tính hợp tác, trong đó vai trò lãnh đạo được thường xuyên luân chuyển” là thực hiện tính dân chủ trong giáo dục. Sau này, những quan điểm nghiên cứu của ông được các đồng nghiệp và các nhà nghiên cứu khác phát triển, hoàn thiện hơn [4, tr. Tiêu biểu là Herbert Thelen, cũng thuộc Đại học Chicago, đã rất quan tâm đến tính chất hoạt động của nhóm, làm cơ sở cho lí luận về dạy học hợp tác sau này.
Nhiều nhóm nghiên cứu và những nhà thực hành ở Mỹ và các nước khác đã quan tâm nghiên cứu và áp dụng phương thức học tập hợp tác vào quá trình 7 Luan van dạy học ở nhiều cấp học khác nhau. Có rất nhiều nhà nghiên cứu sư phạm trên thế giới đã nghiên cứu và rút ra những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về dạy học hợp tác nhóm. Có thể nói “cho đến nay những người nổi tiếng trong nghiên cứu về dạy học hợp tác đó là anh em nhà Johnsons và Kagans” [31, tr. Johnson và David W.
Johnson là anh em giảng viên tại Đại học Giáo dục, Đại học Minnesota. Nghiên cứu của họ liên quan đến học tập hợp tác bắt đầu vào năm 1960 với các điều tra về các tình huống dạy học hợp tác và cạnh tranh. Các nghiên cứu vừa hoàn thiện hệ thống lý luận lẫn vấn đề vận dụng dạy học hợp tác. Trong bài viết Một cái nhìn tổng quan về học tập hợp tác, họ đã đưa ra nhận định tổng quát nhất về ra đời và ảnh hưởng của dạy học hợp tác.
Theo đó, các tác giả xác định “Có ba cách học cơ bản mà sinh viên có thể tương tác với nhau. Họ có thể cạnh tranh xem ai là “người giỏi nhất”, họ có thể làm việc cá nhân nhằm đạt được mục tiêu mà không cần chú ý đến người khác, hoặc họ có thể làm việc hợp tác với sự quan tâm đến việc học của người khác như của chính mình” [36]. Các tác giả khẳng định học tập hợp tác có khá nhiều ưu điểm so với hai cách học còn lại. Nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh “Có sự khác nhau giữa những sinh viên làm việc cùng nhóm đơn giản và nhóm sinh viên được tổ chức làm việc hợp tác.
Một nhóm sinh viên ngồi cùng một bàn để làm việc chung nhưng thoải mái trò chuyện với nhau khi làm thì không phải là nhóm hợp tác, bởi vì họ không có sự tương tác tích cực. Có lẽ nên gọi là nhóm học truyện trò mang tính cá nhân. Để nhóm này trở thành một nhóm hợp tác thì cần đưa ra một mục tiêu chung mà nếu giải quyết nó nhóm sẽ được khen thưởng cho nỗ lực của họ.” [36] Còn trong nghiên cứu Hai người học tốt hơn một, Roger và David Johnson lại nhấn mạnh rằng: Buộc sinh viên học tập hợp tác là cách thức mạnh mẽ để họ học tập và tạo ra hiệu quả tích cực đối với không khí lớp học. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhấn mạnh về dạy học hợp tác nhóm trong lớp học là những thành tích học tập, sự chấp nhận khác biệt và các thái độ tích cực, rõ 8 Luan van ràng.
Các tác giả nhận định rằng, các nghiên cứu về dạy học hợp tác đã có sự so sánh và phần lớn kết luận rằng sinh viên học hiệu quả hơn khi họ hợp tác cùng nhau. Cụ thể là họ đạt được nhiều thành quả hơn khi học tập hợp tác so với học cạnh tranh hoặc học cá nhân. Đồng thời người học đã có thái độ tích cực hơn đối với không chỉ việc học mà còn với lớp học, giáo viên và môn học đó khi được tổ chức làm việc cùng nhau. Đặc biệt họ còn có cái nhìn tích cực hơn về bản thân người đồng hành với mình trong quá trình làm việc và phối hợp hiệu quả để giải quyết các nhiệm vụ nhờ hợp tác trong học tập [33].
Có thể nói cách tiếp cận của nhóm các tác giả này đánh giá hợp tác như một phương thức học tập hiệu quả của SV, mà nếu tham gia tích cực thì họ sẽ đạt được các kết quả tốt hơn rất nhiều so với những cách thức học tập khác. Nói về các cấu trúc cho việc vận dụng trong dạy học hợp tác thì Spencer Kagan là người có nhiều nghiên cứu về vấn đề này hơn cả. Năm 1985, Tiến sĩ Spencer Kagan đã giới thiệu các phương pháp tiếp cận cấu trúc trong dạy học hợp tác, mà bây giờ được sử dụng trên toàn thế giới trong các lớp học ở tất cả các cấp lớp. “Thay vì nhấn mạnh các bài học lý thuyết nặng nề, các đơn vị kiến thức phức tạp, lối tiếp cận cấu trúc của Kagan đã làm cho hợp tác học tập là một phần của bất cứ bài học nào qua việc ông thêm vào các cấu trúc của học tập hợp tác” [31, tr.
Vấn đề quan trọng trong các cấu trúc mà Kagan đưa ra để thực hiện hiệu quả dạy học hợp tác là ông đã xây dựng các nguyên tắc mà có thể khái quát thành các từ viết tắt PIES, đó là: Sự phụ thuộc tích cực lẫn nhau (Positive Interdependence), trách nhiệm cá nhân (Individual Accountability), sự tham gia bình đẳng (Equal Participation) và tương tác đồng thời (Simultaneous Interaction). Việc vận dụng các nguyên tắc như thế nào và kết quả của nó cũng là kết quả của việc vận dụng các cấu trúc Kagan. Kagan đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt về vấn đề này được thể hiện trong bài viết Học tập hợp tác: 17 ưu điểm và 17 nhược điểm cùng 10 điều đề vận dụng thành công. Ông nhấn mạnh các lợi thế mà học tập hợp tác mang lại, không chỉ trong lĩnh vực dạy học mà còn ở các vấn đề khác như quan hệ dân tộc, tính tự chủ trách 9 Luan van nhiệm, đặc biệt là kỹ năng xã hội của người học.
Ngược lại các nhược điểm có thể gây cản trở cho quá trình dạy học, giáo viên và người học do hợp tác đưa đến cũng được ông nêu ra rất cụ thể, đó là vấn đề thiếu kĩ năng xã hội của sinh viên, việc tổ chức dạy học hợp tác của giáo viên, các yếu tố chủ quan khác ảnh hưởng đến hợp tác nhóm. Điều đó làm cho việc vận dụng dạy học hợp tác phải có sự khéo léo, linh hoạt. Muốn vậy, theo Kagan cần lưu ý các yếu tố cơ bản như: kết quả đánh giá làm việc nhóm, liên hệ với phụ huynh, nhà trường và các giáo viên khác, quản lý hiệu quả lớp học…[37]. Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu lý luận lẫn ứng dụng thực tiễn của dạy học hợp tác.
Tiêu biểu là một số bài viết sau: - Trong đề tài Chiến lược dạy học hợp tác và trẻ em [38], tác giả Lawrence Lyman và Harvey C. Foyle lại đưa ra một cái nhìn khác về vấn đề dạy học hợp tác.