CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC HỢP TÁC 1. Dạy học hợp tác 1. Quan niệm về dạy học hợp tác/ học hợp tác Dạy học hợp tác là gì? Dạy học hợp tác có tên tiếng Anh là (Collaborative Learning). Đây là phương pháp dạy học có sự kết nối, tham gia của nhiều cá nhân khác nhau.
Tập thể này được gọi là một nhóm học tập và tất cả mọi người trong nhóm có nhiệm vụ, vai trò như nhau. Tất cả mọi người đều phải hỗ trợ, giúp đỡ đồng đội để cùng hướng đến mục tiêu chung của nhóm. Cụ thể, để đạt được mục tiêu học tập, nhóm cần phân chia nhiệm vụ cho từng cá nhân và yêu cầu cá nhân đó phải hoàn thành trong một thời gian nhất định. Trong quá trình hoàn thành nhiệm vụ, các học sinh sẽ tương tác, trao đổi thông tin với nhau.
Việc này sẽ giúp các em hiểu rõ hơn về vấn đề cũng như tiếp thu được nhiều kiến thức, kinh nghiệm từ chính người bạn của mình đúng như câu nói “học thầy không tày học bạn”. Mỗi nhóm thường có khoảng 4 – 6 thành viên. Số lượng thành viên này không quá nhiều, không quá ít và phù hợp để thực hiện công việc nhóm không bị trồng chéo nhiệm vụ, đồng thời, nâng cao hiệu quả quản lý. Đây là một phương pháp khoa học, được đánh giá cao về hiệu quả.
Phương pháp dạy học hợp tác là cách dạy học mang tính tập thể gồm nhiều cá nhân khác nhau. Trong đó, mọi người hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau dể đạt mục tiêu chung. Dạy học hợp tác giúp người học tiếp thu kiến thức qua các hoạt động tương tác đa dạng như giữa người học với người học, giữa người dạy với người học, giữa người học và môi trường. Phương pháp dạy học hợp tác mang lại nhiều lợi ích trong dạy và học, đặc biệt là dạy môn Toán.
Dạy học hợp tác để làm gì? Có không ít nghiên cứu đã chỉ ra lợi ích đến từ việc tổ chức phương pháp dạy học hợp tác. Và khó có ai dám phủ nhận mục đích tốt đẹp mà phương pháp này mang đến. Cụ thể: 10 - Dạy học hợp tác nâng cao chất lượng giảng dạy rõ rệt và cải thiện kết quả học tập của các em học sinh. - Giúp học sinh nhận ra được sức mạnh của tập thể và tác dụng khi học nhóm.
- Giúp các thành viên trong nhóm có cơ hội giao tiếp với nhau nhiều hơn, tạo sự gắn kết và củng cố mối quan hệ tốt đẹp giữa các thành viên. - Giúp học sinh tự tin hơn, quyết đoán hơn khi đưa ra ý kiến của cá nhân.N (1976): “Sự phát triển của các mô hình học tập liên tục thay đổi theo thời gian. Mô hình học tập truyền thống (thầy giảng - trò ghi chép) đã bị thay thế bởi các mô hình hiện đại hơn. Một trong những mô hình học tập nhận được nhiều phản hồi tích cực là DHHT.”[20] Trong luận văn này: DHHT được hiểu là cách DH, trong đó GV tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm nhỏ trong tiến trình bài học.
“Phương pháp DHHT mang tính tập thể trong đó mọi người hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau để đạt mục tiêu chung. DHHT giúp người học tiếp thu kiến thức qua các hoạt động tương tác đa dạng như giữa người học với người học, giữa người dạy với người học, giữa người học và môi trường. Phương pháp DHHT mang lại nhiều lợi ích trong dạy và học, đặc biệt là dạy môn Toán.” [2] “Học hợp tác (Collaborative Learning) là một phương pháp học phức hợp áp dụng cho một nhóm người, các em trong nhóm sẽ học tập, làm việc cùng nhau để cùng nghiên cứu, khảo sát một chủ đề bài học nhằm đạt được kết quả cao nhất trong học tập. Mỗi HS sẽ là một thành viên trong nhóm có trách nhiệm riêng của mình, không liên quan đến các HS khác.” [29] Trong nhóm, các thành viên sẽ tương tác và hợp tác với nhau để hỗ trợ cho việc học tốt hơn.
Mỗi nhóm học hợp tác thường gồm 4 đến 6 HS có học lực khác nhau cùng học tập và làm việc hướng đến mục đích chung dựa trên những nỗ lực đóng góp của từng thành viên trong nhóm. Phương pháp ĐHHT nhằm giúp tất cả các HS tham gia vào quá trình học tập với tính chủ động và đóng góp hoạt động, mang lại mục tiêu chung 11 cho cả nhóm. Đây là cơ hội để mỗi HS chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và ý kiến của bản thân trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến nội dung của bài học được GV đưa ra. Hơn nữa, đây còn là dịp để các em học hỏi lẫn nhau, chia sẻ những điểm tốt, ưu điểm từ các bạn khác và có cơ hội hợp tác để giải quyết những nhiệm vụ chung của nhóm.
Hình thức học tập này đòi hỏi sự tham gia đóng góp trực tiếp và tích cực của mỗi thành viên vào quá trình học tập, trong đó, vai trò của các thành viên là như nhau. Đồng thời, trong quá trình tổ chức dạy học sẽ hình thành nên các mối quan hệ giữa GV - HS; HS - HS; HS - nhóm, giúp HS chủ động lĩnh hội tri thức, phát triển kĩ năng và phẩm chất đạo đức một cách tốt nhất. Một số yêu cầu cơ bản về dạy học hợp tác/ học hợp tác DHHT phải đảm bảo các yếu tố cơ bản sau: Sự phụ thuộc lẫn nhau theo hướng tích cực giữa các thành viên; Sự tương tác trực tiếp của các cá nhân tác động đến thành công; Ý thức trách nhiệm của cá nhân và tập thể để đạt được mục tiêu của nhóm; Sử dụng kĩ năng giao tiếp và kĩ năng xã hội. DHHT mang lại cơ hội cho HS được khẳng định và phát triển bản thân trong môi trường tập thể.
HS có thể dễ dàng hoàn thành mục tiêu học tập nhờ sự trợ giúp của các thành viên khác - điều mà HS khó đạt được khi thực hiện một mình. Việc xây dựng chiến lược giảng dạy trong phương pháp DHHT dựa trên nhiều yếu tố phân chia một dự án lớn thành các bài tập nhỏ, hay phân loại nhóm theo khả năng và điểm chung của HS. Khái niệm học hợp tác hay cooperative learning tuy vậy đã được định nghĩa rộng hơn so với mô hình làm việc theo cặp hay nhóm nhỏ, tức là cho phép HS được trải nghiệm nhiều cách thức hợp tác khác nhau để giải quyết vấn đề, từ đó thúc đẩy quá trình tiếp nhận kiến thức. Sự tương tác (Interaction) Sự tương tác không chỉ là giữa các thành viên với nhau mà còn là giữa GV và HS.
Đặc biệt tương tác giữa GV và nhóm cần được thực hiện tuần tự, với mỗi lần chỉ có một thành viên từ nhóm tham gia, GV hỏi - HS trả lời - GV đáp lại phần trình bày của HS. Hãy để HS có cơ hội chủ động thể hiện ý kiến và cách giải quyết của bản thân, và GV sẽ là người lắng nghe nhiều hơn. Phương pháp DHHT cũng hướng đến tạo ra sự tương tác đồng thời, tức là nhiều HS có thể trình bày các quan điểm khác nhau cho cùng một vấn đề, chẳng hạn như khi tham gia tranh biện tại lớp học. Phương pháp DHHT cũng đề cao sự tương tác của các thành viên trong nhóm.
Trong mô hình làm việc cạnh tranh truyền thống, chỉ HS giỏi mới được GV chú ý hoặc gọi trình bày thay cho cả nhóm, và việc đảm bảo tất cả thành viên đều tiếp nhận lượng kiến thức như nhau không phải là điều quan trọng, bởi vì lúc này GV chỉ tập trung vào sự hứng thú của một cá nhân nổi bật. Sự phụ thuộc tích cực (Positive Interdependence) Dù là làm việc theo cặp hay nhóm, mỗi HS đều cần thể hiện bản thân như một đội và cùng làm việc hướng tới cùng một mục tiêu. Phương pháp DHHT khuyến khích tạo động lực để các thành viên trong một nhóm cùng thảo luận và tích cực đưa ra nhiều cách giải quyết khác nhau cho một vấn đề. Không có sự phụ thuộc tiêu cực hay trách nhiệm toàn bộ chỉ được thực hiện bởi một cá nhân mà đòi hỏi sự đóng góp của cả nhóm.
Để đảm bảo sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực trong khi làm việc với học tập hợp tác, hai điều kiện cần phải được đáp ứng: HS phải cảm thấy đang cùng hướng đến một mục tiêu (hay có cùng ý tưởng và cách giải quyết) và nhiệm vụ được GV đưa ra phải đòi hỏi yếu tố hợp tác chặt chẽ. Quá trình vận hành nhóm (Group processing) Quá trình vận hành nhóm (Group processing) là yếu tố định nghĩa chất lượng của các hoạt động và tương tác giữa các thành viên trong nhóm với nhau. Bên cạnh GV, HS cũng cần tự mình đánh giá chất lượng làm việc nhóm của mình. Chẳng hạn như, mỗi thành viên trong nhóm có đảm nhiệm những chức năng khác nhau rõ ràng hay không? Từ cá nhân có đang thể hiện điểm mạnh của bản thân hay không? Quá trình giao tiếp và trao đổi giữa các thành viên trong nhóm như thế nào? điều này là quan trọng để củng cố phương pháp DHHT.
Trách nhiệm cá nhân (Individual responsibility) Trong khi áp dụng phương pháp DHHT, HS làm việc cùng nhau như một nhóm để sáng tạo và học hỏi, nhưng cuối cùng mỗi cá nhân HS phải chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình. Theo đó, phương pháp DHHT tạo điều kiện cho HS hoàn thành cả vai trò phụ thuộc lẫn nhau tích cực và trách nhiệm giải trình cá nhân. Tức là, bất kể GV đưa ra yêu cầu nào, các em HS cũng cần cung cấp cả thời gian để suy nghĩ và làm việc một mình, đồng thời tương tác với thành viên cùng nhóm. Bằng cách này, tính tự chủ và hợp tác của HS sẽ được cải thiện.
Kỹ năng hợp tác GV cũng cần đảm bảo HS được nâng cao về các kỹ năng con người (people skills) chẳng hạn như giao tiếp, cách giữ bình tĩnh khi tranh luận, sự tôn trọng ý kiến khác nhau, khả năng lắng nghe. Bên cạnh đó, việc hỗ trợ về công nghệ cho quá trình làm việc cũng rất quan trọng. Ví dụ như GV có thể cho phép HS sử dụng các công cụ trình bày trực quan để thể hiện ý tưởng một cách hiệu quả nhất. Ngoài những yếu tố trên, một thành phần cần được cân nhắc trong phương pháp DHHT có liên quan đến việc phân chia công việc.
GV cần chia một yêu cầu thành các nhiệm vụ nhỏ với các mục đích đạt được nằm trong khả năng của HS, và nhằm đáp ứng một mục tiêu học tập tổng thể.