Trần Thị Hương Giang (Luận văn ThS): Dạy học Sinh thái nhân văn THPT Thái Nguyên

Luận văn nghiên cứu xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề Sinh thái nhân văn tại các trường THPT Thái Nguyên. Cải thiện chất lượng giáo dục môn Sinh học.

Chuyên ngành

Lý luận & Phương pháp dạy học bộ môn Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2020

167
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH

MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

1.5. Phạm vi nghiên cứu

1.6. Phương pháp nghiên cứu

1.7. Giả thuyết khoa học

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Tổng quan về vấn đề sinh thái nhân văn

1.2. Quá trình phát triển và quan điểm về sinh thái nhân văn

1.3. Đặc điểm của sinh thái học nhân văn

1.4. Khái niệm sinh thái nhân văn

1.5. Cơ sở đề xuất chuyên đề sinh thái nhân văn

1.6. Cơ sở thực tiễn của sinh chuyên đề sinh thái nhân văn

1.7. Tình hình nghiên cứu và biên soạn chuyên đề học tập ở trường phổ thông

1.8. Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án

1.9. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SINH THÁI NHÂN VĂN Ở CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH THÁI NGUYÊN

2.1. Xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Thái Nguyên

2.2. Mục đích xây dựng chuyên đề

2.3. Nguyên tắc xây dựng tài liệu chuyên đề học tập

2.4. Các bước thực hiện xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Thái Nguyên

2.5. Nội dung chuyên sinh thái nhân văn tỉnh Thái Nguyên

2.6. Tổ chức dạy học dự án chuyên đề sinh thái học nhân văn

2.7. Quy trình tổ chức cho HS học theo dự án

2.8. Vận dụng dạy học dự án trong dạy học chuyên đề Sinh thái nhân văn tỉnh Thái Nguyên

2.9. Bản kế hoạch (giáo án) dạy học chuyên đề: Sinh thái nhân văn tỉnh Thái Nguyên

2.10. Đánh giá kết quả học tập của học sinh

2.11. Xây dựng công cụ đánh giá sản phẩm của học sinh

2.12. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ

3.1. Mục đích kiểm nghiệm

3.2. Phương pháp kiểm nghiệm

3.3. Kết quả kiểm nghiệm

3.4. Sản phẩm của dự án

3.5. Phiếu điều tra sau học tập

3.6. Đánh giá kiểm nghiệm

3.7. Đánh giá kết quả học tập của học sinh

3.8. Phân tích các sản phẩm

3.9. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan Luận văn ThS Dạy học Sinh thái nhân văn THPT

Luận văn Thạc sĩ "Xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề Sinh thái nhân văn ở trường Trung học phổ thông tỉnh Thái Nguyên" là một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục chuyên sâu, được thực hiện bởi tác giả Trần Thị Hương Giang dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh tại Đại học Sư phạm Thái Nguyên. Đề tài ra đời từ bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, đặc biệt là việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông 2018. Mục tiêu chính của luận văn là xây dựng bộ tài liệu chuyên đề và đề xuất phương pháp tổ chức dạy học hiệu quả, cụ thể là vận dụng phương pháp dạy học theo dự án. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp một cơ sở lý luận vững chắc về Sinh thái nhân văn – một lĩnh vực khoa học liên ngành nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và môi trường – mà còn khảo sát sâu sắc thực trạng dạy học tại Thái Nguyên. Luận văn khẳng định rằng việc tích hợp chuyên đề này vào chương trình Sinh học 12 sẽ góp phần phát triển năng lực học sinh, đặc biệt là năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn, hình thành ý thức về phát triển bền vữnggiáo dục môi trường. Giả thuyết khoa học được đặt ra là nếu xây dựng được tài liệu và vận dụng thành công dạy học dự án, sẽ góp phần thực hiện hiệu quả chương trình mới và cung cấp tài liệu tham khảo giá trị cho giáo viên, học sinh tại địa phương.

1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Luận văn được xây dựng trên hai nền tảng chính: lý luận và thực tiễn. Về cơ sở lý luận, nghiên cứu đã tổng quan quá trình phát triển và các quan điểm về Sinh thái nhân văn (Human Ecology), từ các nghiên cứu kinh điển của trường phái Chicago đến các định nghĩa hiện đại. Sinh thái nhân văn được xác định là khoa học nghiên cứu sự tương tác giữa hệ xã hội và hệ sinh thái thông qua các dòng năng lượng, vật chất và thông tin. Về cơ sở thực tiễn, đề tài xuất phát từ chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 về việc phát triển năng lực và phẩm chất người học. Nghiên cứu chỉ ra một thực tế rằng phần Sinh thái học trong chương trình hiện hành còn nặng về lý thuyết, ít đề cập đến tác động của con người, và đặc biệt thiếu các tài liệu chuyên đề mang tính giáo dục địa phương Thái Nguyên.

1.2. Mục tiêu nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu bao trùm của luận văn là "Xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Thái Nguyên và vận dụng dạy học dự án để dạy chuyên đề" trong chương trình Sinh học 12. Để đạt được mục tiêu này, các nhiệm vụ cụ thể được đặt ra bao gồm: (1) Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn; (2) Xây dựng tài liệu chuyên đề phù hợp với bối cảnh Thái Nguyên; (3) Thiết kế và tổ chức dạy học chuyên đề theo dự án; (4) Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chuyên đề Sinh thái nhân văn và việc tổ chức dạy học theo dự án, trong khi khách thể nghiên cứu là quá trình dạy và học Sinh học lớp 12 tại một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào việc thiết kế và triển khai chuyên đề này.

II. Phân tích thực trạng dạy học chuyên đề Sinh thái nhân văn

Việc dạy học chuyên đề Sinh thái nhân văn tại các trường THPT tỉnh Thái Nguyên đối mặt với nhiều thách thức, phản ánh bức tranh chung của việc triển khai các nội dung mới trong chương trình giáo dục phổ thông 2018. Luận văn đã tiến hành điều tra sư phạm thông qua trao đổi trực tiếp với giáo viên để làm rõ thực trạng dạy học. Kết quả cho thấy, phần Sinh thái học lớp 12 thường được dạy vào cuối học kỳ II, thời điểm học sinh chịu áp lực lớn từ kỳ thi tốt nghiệp, dẫn đến tâm lý học đối phó, ít hứng thú với kiến thức mới. Hơn nữa, giáo viên chủ yếu giảng dạy theo sách giáo khoa, chưa khai thác sâu các nội dung về mối quan hệ giữa con người và môi trường hay các vấn đề thực tiễn như biến đổi khí hậu. Một trong những rào cản lớn nhất được chỉ ra là sự thiếu hụt nghiêm trọng tài liệu hướng dẫn giảng dạy chuyên đề Sinh thái nhân văn nói chung và tài liệu gắn với bối cảnh giáo dục địa phương Thái Nguyên nói riêng. Điều này khiến các trường phổ thông chưa thực sự quan tâm triển khai, dù chuyên đề có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng ý thức sinh thái và định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng một bộ tài liệu chuyên đề bài bản và một phương pháp dạy học phù hợp.

2.1. Những khó khăn khi triển khai nội dung giáo dục mới

Việc đưa chuyên đề Sinh thái nhân văn vào chương trình là một bước tiến, nhưng quá trình triển khai gặp không ít trở ngại. Thứ nhất, áp lực thi cử khiến cả giáo viên và học sinh có xu hướng tập trung vào các nội dung ôn tập cốt lõi, xem nhẹ các chuyên đề học tập tự chọn. Thứ hai, bản thân chuyên đề này mang tính tích hợp cao, đòi hỏi kiến thức từ nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội, môi trường, gây khó khăn cho giáo viên trong việc chuẩn bị bài giảng. Luận văn trích dẫn: "Giáo viên giảng dạy phần sinh thái chủ yếu tập trung khai thác nội dung theo SGK chưa khai thác nội dung về sinh thái học nhân văn". Thứ ba, cơ sở vật chất và trang thiết bị tại một số trường, đặc biệt là các huyện miền núi của Thái Nguyên, còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc tổ chức các hoạt động học tập trải nghiệm, dạy học dự án.

2.2. Nhu cầu cấp thiết về tài liệu giáo dục địa phương hóa

Một trong những yêu cầu cốt lõi của chuyên đề Sinh thái nhân văn là phải có sự liên hệ với thực tiễn địa phương. Tuy nhiên, "các tài liệu hướng dẫn giảng dạy chuyên đề STNV chưa có nên việc giảng dạy chuyên đề chưa được các trường phổ thông quan tâm". Sự thiếu vắng này tạo ra một khoảng trống lớn. Thái Nguyên là một tỉnh có đặc điểm kinh tế - xã hội đa dạng, từ nông nghiệp, công nghiệp khai khoáng đến du lịch, mỗi lĩnh vực đều có những tác động đặc thù đến môi trường. Do đó, việc xây dựng một chương trình riêng, gắn liền với các vấn đề thực tế như ô nhiễm từ khai thác khoáng sản, phát triển du lịch sinh thái tại Hồ Núi Cốc, hay nông nghiệp sạch, là vô cùng cần thiết. Một tài liệu được địa phương hóa sẽ giúp học sinh dễ dàng liên hệ, tăng hứng thú học tập và phát triển năng lực học sinh trong việc giải quyết các vấn đề thực tiễn của quê hương.

III. Phương pháp xây dựng chuyên đề Sinh thái nhân văn Thái Nguyên

Để giải quyết những thách thức về thực trạng dạy học, luận văn đã đề xuất một quy trình bài bản để xây dựng tài liệu chuyên đề Sinh thái nhân văn dành riêng cho học sinh THPT tỉnh Thái Nguyên. Quá trình này không chỉ là biên soạn kiến thức mà còn là một hoạt động nghiên cứu sư phạm, đảm bảo tính khoa học, thực tiễn và phù hợp với đối tượng người học. Mục đích chính là tạo ra một tài liệu học tập có khả năng khơi gợi hứng thú, thúc đẩy dạy học tích cực và giúp học sinh nhận thức sâu sắc về giá trị của phát triển bền vững. Bốn nguyên tắc cốt lõi được đặt ra trong quá trình xây dựng. Thứ nhất, đáp ứng mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018. Thứ hai, đảm bảo tính khoa học và hệ thống của kiến thức. Thứ ba, phù hợp với thực tiễn địa phương và đặc điểm học sinh Thái Nguyên. Thứ tư, sản phẩm học tập phải được cụ thể hóa trong kế hoạch dạy học. Dựa trên các nguyên tắc này, nội dung chuyên đề được cấu trúc thành ba chương chính: (1) Tổng quan về sinh thái nhân văn và phát triển bền vững, (2) Giá trị của sinh thái nhân văn, và (3) Sinh thái nhân văn và phát triển bền vững tại tỉnh Thái Nguyên. Cách tiếp cận này đảm bảo chuyên đề vừa cung cấp nền tảng lý thuyết vững chắc, vừa có tính ứng dụng cao.

3.1. Các nguyên tắc cốt lõi khi biên soạn tài liệu chuyên đề

Luận văn đề cao bốn nguyên tắc khi xây dựng tài liệu. Nguyên tắc 1, đáp ứng mục tiêu dạy học, nhấn mạnh việc phát triển phẩm chất yêu thiên nhiên và trách nhiệm bảo vệ môi trường. Nguyên tắc 2, đảm bảo tính khoa học, yêu cầu nội dung phải bám sát định hướng của chương trình tổng thể và kiến thức chuyên ngành. Nguyên tắc 3, đáp ứng thực tiễn giáo dục địa phương Thái Nguyên, là nguyên tắc quan trọng nhất, đòi hỏi nội dung phải gắn với các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, du lịch của tỉnh. Nguyên tắc 4, cụ thể hóa sản phẩm học tập, yêu cầu kế hoạch dạy học phải mô tả rõ các sản phẩm học sinh cần hoàn thành như bài trình chiếu, poster, mô hình, thể hiện rõ định hướng dạy học theo chủ đề và dự án.

3.2. Quy trình 6 bước phát triển nội dung chuyên đề địa phương

Quá trình xây dựng tài liệu chuyên đề được thực hiện theo một quy trình 6 bước khoa học. Bước 1: Xác định lý do xây dựng chuyên đề, dựa trên yêu cầu đổi mới giáo dục. Bước 2: Xác định mục tiêu cụ thể về kiến thức, kỹ năng, thái độ. Bước 3: Xác định nội dung chính, lựa chọn các chủ đề nhỏ hấp dẫn. Bước 4: Sưu tầm tài liệu liên quan từ nhiều nguồn (Internet, sách, chuyên gia). Bước 5: Tổng hợp nội dung và viết bản thảo chuyên đề, sắp xếp logic phù hợp với học sinh. Bước 6: Xin ý kiến chuyên gia, rà soát và điều chỉnh. Quy trình này đảm bảo sản phẩm cuối cùng không chỉ chính xác về mặt học thuật mà còn khả thi khi áp dụng vào thực tế giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục môi trường.

IV. Bí quyết tổ chức dạy học dự án cho chuyên đề Sinh thái

Điểm đột phá của luận văn không chỉ nằm ở việc xây dựng nội dung mà còn ở việc đề xuất phương pháp dạy học hiện đại để triển khai chuyên đề. Dạy học dự án (Project-Based Learning - PBL) được lựa chọn làm phương pháp chủ đạo nhằm phát huy tối đa tính tự lực, sáng tạo và năng lực học sinh. Đây là một hình thức dạy học tích cực, trong đó học sinh làm việc theo nhóm để giải quyết một vấn đề thực tiễn, phức hợp và tạo ra một sản phẩm cụ thể. Luận văn đã phân tích sâu sắc cơ sở lý luận của dạy học dự án, khẳng định đây là cách thức hiệu quả để gắn kết kiến thức nhà trường với đời sống, đồng thời rèn luyện nhiều kỹ năng mềm quan trọng như giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề. Quy trình tổ chức một dự án học tập được mô tả chi tiết qua ba giai đoạn chính: (1) Đề xuất giải pháp và lập kế hoạch; (2) Thực hiện dự án; (3) Tổng hợp, báo cáo kết quả và đánh giá. Trong chuyên đề Sinh thái nhân văn, học sinh được hướng dẫn lựa chọn các tiểu dự án gần gũi như "Sự đa dạng hệ sinh thái tỉnh Thái Nguyên" hay "Tìm hiểu mối quan hệ giữa hệ xã hội và hệ sinh thái tại địa phương". Cách tiếp cận này biến quá trình học tập thành một hành trình khám phá, giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức.

4.1. Lợi ích của mô hình dạy học tích cực và hiện đại này

Dạy học dự án mang lại nhiều lợi ích vượt trội so với các phương pháp truyền thống. Nó hướng tới các vấn đề thực tiễn, giúp học sinh thấy được ý nghĩa của việc học. Quá trình thực hiện dự án đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp từ nhiều môn học, phá vỡ ranh giới giữa các môn học. Đặc biệt, nó phát triển các kỹ năng tư duy bậc cao như phân tích, tổng hợp và kiểm tra đánh giá. Như luận văn nêu rõ, dạy học dự án "rèn luyện nhiều kĩ năng (tổ chức kiến thức, kĩ năng sống, kĩ năng làm việc theo nhóm, giao tiếp…)". Học sinh không còn là người tiếp thu thụ động mà trở thành nhà nghiên cứu, chủ động tìm kiếm thông tin, xử lý dữ liệu và tạo ra sản phẩm của riêng mình. Điều này không chỉ giúp kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững mà còn bồi dưỡng niềm đam mê khoa học.

4.2. Quy trình 3 giai đoạn tổ chức dự án học tập hiệu quả

Luận văn hệ thống hóa quy trình tổ chức dạy học dự án thành 3 giai đoạn chính. Giai đoạn 1 (Lập kế hoạch): Giáo viên giới thiệu chủ đề lớn, học sinh thảo luận để chọn các tiểu chủ đề, thành lập nhóm và xây dựng kế hoạch chi tiết (mục tiêu, nhiệm vụ, thời gian, sản phẩm dự kiến). Giai đoạn 2 (Thực hiện): Các nhóm tự lực thu thập thông tin từ nhiều nguồn, xử lý dữ liệu, thảo luận và giải quyết các vấn đề phát sinh. Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, cố vấn. Giai đoạn 3 (Báo cáo và Đánh giá): Các nhóm trình bày sản phẩm cuối cùng (bài thuyết trình, poster, video...). Quá trình đánh giá không chỉ dựa trên sản phẩm mà còn cả quá trình làm việc, có sự tham gia của cả giáo viên và học sinh (tự đánh giá và đánh giá chéo).

V. Cách kiểm tra đánh giá hiệu quả dạy học qua thực nghiệm

Để chứng minh tính khả thi và hiệu quả của chuyên đề và phương pháp đề xuất, luận văn đã tiến hành một chương trình thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Mục đích của thực nghiệm là kiểm tra đánh giá tác động của việc dạy học chuyên đề Sinh thái nhân văn theo hình thức dạy học dự án đến nhận thức, thái độ và năng lực học sinh. Quá trình này không chỉ đo lường kết quả học tập thông qua điểm số mà còn tập trung vào việc đánh giá sự phát triển toàn diện của người học. Các công cụ đánh giá đa dạng đã được xây dựng và sử dụng, bao gồm phiếu điều tra nhận thức trước và sau dự án, bảng tiêu chí đánh giá sản phẩm dự án (bài trình chiếu, poster), và phiếu đánh giá hoạt động nhóm. Việc phân tích kết quả thực nghiệm một cách khoa học đã cung cấp những bằng chứng thuyết phục về hiệu quả của phương pháp. Kết quả cho thấy học sinh không chỉ nắm vững kiến thức về Sinh thái nhân văn mà còn thể hiện sự hứng thú, tích cực tham gia và cải thiện rõ rệt các kỹ năng mềm. Những sản phẩm dự án mà học sinh tạo ra thể hiện sự sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào phân tích các vấn đề môi trường thực tiễn của địa phương.

5.1. Xây dựng bộ công cụ kiểm tra đánh giá năng lực học sinh

Việc kiểm tra đánh giá trong dạy học dự án đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện hơn là các bài kiểm tra truyền thống. Luận văn đã xây dựng một bộ công cụ đánh giá đa chiều. Đầu tiên là các phiếu điều tra nhận thức, được sử dụng để so sánh hiểu biết và thái độ của học sinh trước và sau khi tham gia dự án, đo lường sự thay đổi về nhận thức liên quan đến giáo dục môi trường. Thứ hai là các bảng tiêu chí (rubric) để đánh giá sản phẩm của từng nhóm. Các tiêu chí này bao gồm nội dung khoa học, tính sáng tạo, khả năng trình bày và mức độ hoàn thành yêu cầu. Công cụ này đảm bảo việc đánh giá được khách quan và công bằng. Cuối cùng là các phiếu đánh giá chéo giữa các thành viên trong nhóm, giúp đánh giá kỹ năng hợp tác và tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân.

5.2. Phân tích kết quả và sản phẩm từ thực nghiệm sư phạm

Kết quả thực nghiệm sư phạm được phân tích cả về định lượng và định tính. Về định lượng, kết quả từ các phiếu điều tra cho thấy sự gia tăng đáng kể về mức độ hiểu biết của học sinh về các khái niệm như phát triển bền vững, biến đổi khí hậu và vai trò của Sinh thái nhân văn. Về định tính, việc phân tích các sản phẩm dự án cho thấy học sinh đã có khả năng liên hệ lý thuyết với thực tiễn một cách sâu sắc. Các bài báo cáo không chỉ trình bày lại kiến thức mà còn đưa ra các phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp cho các vấn đề môi trường tại Thái Nguyên. Luận văn kết luận rằng, phương pháp này đã thành công trong việc "nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học" cho học sinh.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn ở trường trung học phổ thông tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan về vấn đề sinh thái nhân văn 1. Quá trình phát triển và quan điểm về sinh thái nhân văn Sinh thái nhân văn học được ra đời từ những nghiên cứu đô thị của các nhà xã hội học thuộc Đại học Tổng hợp Chicago và thuật ngữ này được hiện diện lần đầu trong một ấn phẩm của Robert E. Park và Ernest W.

Sutton và Anderson (2010) định nghĩa “Sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu mối tương tác giữa con người với môi trường”. Theo đó, sinh thái nhân văn được chia làm hai lĩnh vực bổ sung cho nhau: (i) sinh thái sinh học người (human biologicalecology); và (ii) sinh thái học văn hóa (cultural ecology). Khái niệm này hàm chứa tính liên ngành và đa ngành của sinh thái nhân văn: các nghiên cứu sinh thái nhân văn có thể đến từ lĩnh vực khoa học tự nhiên, như: sinh học (biology), sinh thái học (ecology), hoặc các lĩnh vực khoa học xã hội khác như địa lý, khoa học môi trường, xã hội học, nhân học, tâm lý học, kinh tế học, khoa học chính trị, v. Theo đó, sinh thái sinh học người tập trung nghiên cứu về sự thích nghi sinh học của con người với môi trường ở tất cả các cấp độ, từ phân tử tới cá thể và quần thể.

Trong khi đó, sinh thái học văn hóa tập trung nghiên cứu sự thích nghi văn hóa của con người với môi trường [4], [6], [21]. Trước đây, trong các nghiên cứu sinh thái học con người thường chỉ đứng ngoài như một siêu yếu tố để quan sát và nhận định các quá trình tự nhiên. Ngày nay, có thể nói không có một hệ sinh thái nào trên bề mặt trái đất lại không có sự tác động của con người. 6 download by : skknchat@gmail.com SINH THÁI NHÂN VĂN (Human ecology) Sinh thái sinh học người Sinh thái học văn hóa (Biological human ecology) (Cultural ecology) Hình 1.

Nội hàm của sinh thái học nhân văn (Nguồn: Theo Suton và Anderson, 2010). Mô hình sinh thái nhân văn kinh điển được Rapparport và Vayda giới thiệu hai công trình nổi tiếng như: “Pigs for the Ancestors: Ritual in the Ecology of a New Guinea People (1968)” và “Ecology: Cultural and Non-cultural in Introduction to Cultural Anthropology (1968)” Vayda và Rappaport đề xuất rằng, thay vì nghiên cứu xem văn hóa tiến hóa như thế nào, hãy tập trung nghiên cứu văn hóa thích nghi ra sao với môi trường [6], [7]. Quan điểm này dẫn tới sự tập trung nghiên cứu vào mối quan hệ của các quần thể người cụ thể với các hệ sinh thái cụ thể. Theo quan điểm của hai nhà nhân học sinh thái này, con người, cũng như các sinh vật khác, tạo ra các quần thể giữa muôn loài sinh vật, có sự tương tác với nhân tố sinh thái vô sinh và hữu sinh của hệ sinh thái địa phương nơi họ sinh sống.

Vì vậy, hệ sinh thái chứ không phải văn hóa sẽ tạo nên các đơn vị cơ bản cho phân tích trong sinh thái nhân văn. Theo từ điển môi trường, "Sinh thái nhân văn là hệ thống các nguyên tắc đạo đức, triết lý thống trị của con người đối với trái đất và sinh vật, nơi sự thống nhất của con người và môi trường là cần thiết cho phúc lợi xã hội. Sinh thái nhân văn dựa trên một sự tiến hóa tiếp cận trong môi trường và thích ứng văn hóa và tiến hóa của con người. Sinh thái nhân văn nghiên cứu sự mất cân bằng các mối quan hệ giữa con người và môi trường, liên quan đến bệnh tật, cung cấp thực phẩm, dân số 7 download by : skknchat@gmail.com sinh thái, ô nhiễm môi trường, phân phối không đồng đều và sử dụng các nguồn lực vô lý.

Theo tiến sĩ Ramboo - Viện Môi trường và Chính sách, Trung tâm Đông Tây - Hawaii - Hoa kỳ (1984) thì Sinh thái Nhân văn sinh học gồm hệ sinh thái và hệ xã hội tương tác, chọn lọc và thích nghi qua trao đổi giữa các dòng năng lượng, vật chất và thông tin trong quá trình phát triển [28]. Quan hệ giữa hệ sinh thái và hệ xã hội (Theo Terry Ramboo 1984) Xét về mặt dịch thuật, cụm từ tiếng Anh “Human Ecology” được Lê Trọng Cúc và các chuyên gia dịch là “Sinh thái nhân văn”, nhưng cũng có một số chuyên gia khác dịch là “Sinh thái học người”. Cho đến nay, nhóm chuyên gia của Lê Trọng Cúc vẫn trung thành theo quan điểm sinh thái nhân văn vừa là một khoa học (nên có thể gọi là sinh thái nhân văn học) vừa là một tiếp cận hệ thống liên ngành [6] [21]. Sinh thái nhân văn học đã được nghiên cứu ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện Chương trình cấp Nhà nước “Nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” từ năm 1981 đến 1990.

Đây là chương trình đã tập hợp được các chuyên gia hàng đầu, mở ra mối quan tâm tập trung vào nghiên cứu đánh giá sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là ở các khu vực miền núi trung du, rừng ngập mặn cửa sông ven biển và các 8 download by : skknchat@gmail.com vấn đề môi trường mới nóng lên. Chính trong quá trình đó, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường đã được thành lập và sinh thái nhân văn học đã được đưa vào Việt Nam [16]. Đặc điểm của sinh thái học nhân văn Sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu quan hệ tác động tương hỗ giữa con người với môi trường thiên ở mức độ hệ thống, bao gồm hệ xã hội và hệ tự nhiên (hệ sinh thái) được tiến hành thông qua quá trình sản xuất xã hội. Bằng quá trình sản xuất xã hội, con người đã không ngừng khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường [5], [6], [23].

Các nghiên cứu sinh thái học nhân văn sử dụng những kiến thúc cơ bản về sinh thái học làm cơ sở cho sự phát triển, vì bản thân ngành khoa học này cũng mang ý nghĩa sinh thái học. Hệ sinh thái là một phức hệ sống bao gồm các quá trình phối hợp chặt chẽ và đan cài vào nhau, được đặc trưng bởi nhiều mối quan hệ nhân quả [15]. Mối quan hệ này cung cấp một cơ chế phản hồi tác động đến quá trình tăng trưởng, phát triển của các quần thể sinh vật có liên quan, đảm bảo tính bền vững cho toàn bộ hệ thống. Về mặt cấu trúc, bất kì một hệ sinh thái nào cũng gồm 2 nhân tố cơ bản là nhân tố sinh vật và nhân tố vô sinh.

Các thành phần sống (sinh học) và không sống (phi sinh học) có quan hệ khăng khít với nhau và thường xuyên có tác động qua lại thông qua các chu trình dinh dưỡng và dòng năng lượng. Các yếu tố vô sinh gồm yếu tố vật lý (để tạo nguồn năng lượng): ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, áp suất, dòng chảy… Yếu tố vô cơ: gồm những nguyên tố và hợp chất hóa học cần thiết cho tổng hợp chất sống tham gia vào chu trình tuần hoàn vật chất và các chất hữu cơ (các chất mùn, acid amin, protein, lipid, glucid): đây là các chất có đóng vai trò làm cầu nối giữa thành phần vô sinh và hữu sinh, chúng là sản phẩm của quá trình trao đổi vật chất giữa 2 thành phần vô sinh và hữu sinh của môi trường. Về mặt chức 9 download by : skknchat@gmail.com năng có thể chia các loại sinh vật trong hệ sinh thái thành 3 nhóm: sinh vật sản xuất (hay tự dưỡng), sinh vật tiêu thụ (cấp 1, 2, 3), sinh vật phân hủy (các loại vi sinh vật động vật nhỏ bé hoặc các sinh vật hoại sinh). Trong hệ sinh thái luôn diễn ra các quá trình chính, đó là quá trình trao đổi năng lượng, tuần hoàn các chất và sự tương tác giữa các loài.

Nguồn năng lượng trong hệ sinh thái có nguồn gốc chủ yếu từ ánh sáng mặt trời (thông qua quang hợp) và năng lượng hóa học (thông qua chuỗi thức ăn). Thông qua chuỗi thức ăn, bậc dinh dưỡng trên sẽ nhận được khoảng 10% năng lượng từ bậc dinh dưỡng thấp. Mọi sinh vật sống chính là nguồn thực phẩm quan trọng cho các sinh vật khác [24]. Như vậy, có thể hiểu chuỗi thức ăn là một chuỗi sinh vật mà sinh vật sau ăn sinh vật trước, lưới thức ăn (food web) gồm nhiều chuỗi thức ăn.

Đặc trưng cơ bản của hệ sinh thái tự nhiên là khả năng tự lập lại cân bằng, nghĩa là mỗi khi bị ảnh hưởng bởi một nguyên nhân nào đó thì lại có thể phục hồi để trở về trạng thái ban đầu. Đặc trưng này được coi là khả năng thích nghi của hệ sinh thái. Khả năng tự thích nghi này phụ thuộc vào cơ chế cấu trúc - chức năng của hệ, thể chế này biểu hiện chức năng của hệ trong mỗi giai đoạn phát triển. Hệ xã hội là toàn bộ các thành phần xã hội, các sản phẩm khác nhau của văn hoá con người ở mức độ quần thể.

Nhân tố con người là nhân tố quan trọng trong mối quan hệ giữa hệ xã hội và hệ sinh thái. Con người là yếu tố cấu thành, yếu tố xây dựng của hệ sinh thái nhân văn, con người có nhận thức trong hệ sinh thái nhân văn [15]. Con người hiện đại không thể sống thiếu kĩ thuật và công nghệ, nhưng đồng thời cũng không thể sống tách rời khỏi thiên nhiên. Sự phát triển văn minh của xã hội loài người đã gây mâu thuẫn gay gắt giữa tri thức sản xuất xã hội với môi trường tự nhiên.

Việc giải quyết mâu thuẫn này là một trong những động lực để phát triển xã hội. Trước đây trong việc giải quyết mâu thuẫn này con người chỉ nhằm mục đích là thoả mãn nhu cầu sống ngày càng cao của mình và sự phát triển của xã hội, vì thế đã dẫn đến những hậu quả 10 download by : skknchat@gmail.com tiêu cực không lường trước được trong lĩnh vực sinh thái môi trường [11], [12]. Giải quyết mâu thuẫn này không chỉ vì lợi ích của con người và xã hội, mà phải tính đến sự sống của tự nhiên, đến sự tồn tại trong mối quan hệ hài hoà thật sự giữa xã hội và tự nhiên với tư cách như là những yếu tố cấu thành của một hệ thống toàn vẹn. Bản chất của vấn đề sinh thái học nhân văn còn phụ thuộc rất nhiều vào các vấn đề kinh tế - xã hội, chính trị, tư tưởng, văn hoá, nếp sống, truyền thống, tập tục v.

của một xã hội nhất định [9] [25]. Hơn thế nữa, môi trường sống của cộng đồng là môi trường tự nhiên và xã hội, hay tự nhiên và văn hoá.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ