Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan về vấn đề sinh thái nhân văn 1. Quá trình phát triển và quan điểm về sinh thái nhân văn Sinh thái nhân văn học được ra đời từ những nghiên cứu đô thị của các nhà xã hội học thuộc Đại học Tổng hợp Chicago và thuật ngữ này được hiện diện lần đầu trong một ấn phẩm của Robert E. Park và Ernest W.
Sutton và Anderson (2010) định nghĩa “Sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu mối tương tác giữa con người với môi trường”. Theo đó, sinh thái nhân văn được chia làm hai lĩnh vực bổ sung cho nhau: (i) sinh thái sinh học người (human biologicalecology); và (ii) sinh thái học văn hóa (cultural ecology). Khái niệm này hàm chứa tính liên ngành và đa ngành của sinh thái nhân văn: các nghiên cứu sinh thái nhân văn có thể đến từ lĩnh vực khoa học tự nhiên, như: sinh học (biology), sinh thái học (ecology), hoặc các lĩnh vực khoa học xã hội khác như địa lý, khoa học môi trường, xã hội học, nhân học, tâm lý học, kinh tế học, khoa học chính trị, v. Theo đó, sinh thái sinh học người tập trung nghiên cứu về sự thích nghi sinh học của con người với môi trường ở tất cả các cấp độ, từ phân tử tới cá thể và quần thể.
Trong khi đó, sinh thái học văn hóa tập trung nghiên cứu sự thích nghi văn hóa của con người với môi trường [4], [6], [21]. Trước đây, trong các nghiên cứu sinh thái học con người thường chỉ đứng ngoài như một siêu yếu tố để quan sát và nhận định các quá trình tự nhiên. Ngày nay, có thể nói không có một hệ sinh thái nào trên bề mặt trái đất lại không có sự tác động của con người. 6 download by : skknchat@gmail.com SINH THÁI NHÂN VĂN (Human ecology) Sinh thái sinh học người Sinh thái học văn hóa (Biological human ecology) (Cultural ecology) Hình 1.
Nội hàm của sinh thái học nhân văn (Nguồn: Theo Suton và Anderson, 2010). Mô hình sinh thái nhân văn kinh điển được Rapparport và Vayda giới thiệu hai công trình nổi tiếng như: “Pigs for the Ancestors: Ritual in the Ecology of a New Guinea People (1968)” và “Ecology: Cultural and Non-cultural in Introduction to Cultural Anthropology (1968)” Vayda và Rappaport đề xuất rằng, thay vì nghiên cứu xem văn hóa tiến hóa như thế nào, hãy tập trung nghiên cứu văn hóa thích nghi ra sao với môi trường [6], [7]. Quan điểm này dẫn tới sự tập trung nghiên cứu vào mối quan hệ của các quần thể người cụ thể với các hệ sinh thái cụ thể. Theo quan điểm của hai nhà nhân học sinh thái này, con người, cũng như các sinh vật khác, tạo ra các quần thể giữa muôn loài sinh vật, có sự tương tác với nhân tố sinh thái vô sinh và hữu sinh của hệ sinh thái địa phương nơi họ sinh sống.
Vì vậy, hệ sinh thái chứ không phải văn hóa sẽ tạo nên các đơn vị cơ bản cho phân tích trong sinh thái nhân văn. Theo từ điển môi trường, "Sinh thái nhân văn là hệ thống các nguyên tắc đạo đức, triết lý thống trị của con người đối với trái đất và sinh vật, nơi sự thống nhất của con người và môi trường là cần thiết cho phúc lợi xã hội. Sinh thái nhân văn dựa trên một sự tiến hóa tiếp cận trong môi trường và thích ứng văn hóa và tiến hóa của con người. Sinh thái nhân văn nghiên cứu sự mất cân bằng các mối quan hệ giữa con người và môi trường, liên quan đến bệnh tật, cung cấp thực phẩm, dân số 7 download by : skknchat@gmail.com sinh thái, ô nhiễm môi trường, phân phối không đồng đều và sử dụng các nguồn lực vô lý.
Theo tiến sĩ Ramboo - Viện Môi trường và Chính sách, Trung tâm Đông Tây - Hawaii - Hoa kỳ (1984) thì Sinh thái Nhân văn sinh học gồm hệ sinh thái và hệ xã hội tương tác, chọn lọc và thích nghi qua trao đổi giữa các dòng năng lượng, vật chất và thông tin trong quá trình phát triển [28]. Quan hệ giữa hệ sinh thái và hệ xã hội (Theo Terry Ramboo 1984) Xét về mặt dịch thuật, cụm từ tiếng Anh “Human Ecology” được Lê Trọng Cúc và các chuyên gia dịch là “Sinh thái nhân văn”, nhưng cũng có một số chuyên gia khác dịch là “Sinh thái học người”. Cho đến nay, nhóm chuyên gia của Lê Trọng Cúc vẫn trung thành theo quan điểm sinh thái nhân văn vừa là một khoa học (nên có thể gọi là sinh thái nhân văn học) vừa là một tiếp cận hệ thống liên ngành [6] [21]. Sinh thái nhân văn học đã được nghiên cứu ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện Chương trình cấp Nhà nước “Nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” từ năm 1981 đến 1990.
Đây là chương trình đã tập hợp được các chuyên gia hàng đầu, mở ra mối quan tâm tập trung vào nghiên cứu đánh giá sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là ở các khu vực miền núi trung du, rừng ngập mặn cửa sông ven biển và các 8 download by : skknchat@gmail.com vấn đề môi trường mới nóng lên. Chính trong quá trình đó, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường đã được thành lập và sinh thái nhân văn học đã được đưa vào Việt Nam [16]. Đặc điểm của sinh thái học nhân văn Sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu quan hệ tác động tương hỗ giữa con người với môi trường thiên ở mức độ hệ thống, bao gồm hệ xã hội và hệ tự nhiên (hệ sinh thái) được tiến hành thông qua quá trình sản xuất xã hội. Bằng quá trình sản xuất xã hội, con người đã không ngừng khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường [5], [6], [23].
Các nghiên cứu sinh thái học nhân văn sử dụng những kiến thúc cơ bản về sinh thái học làm cơ sở cho sự phát triển, vì bản thân ngành khoa học này cũng mang ý nghĩa sinh thái học. Hệ sinh thái là một phức hệ sống bao gồm các quá trình phối hợp chặt chẽ và đan cài vào nhau, được đặc trưng bởi nhiều mối quan hệ nhân quả [15]. Mối quan hệ này cung cấp một cơ chế phản hồi tác động đến quá trình tăng trưởng, phát triển của các quần thể sinh vật có liên quan, đảm bảo tính bền vững cho toàn bộ hệ thống. Về mặt cấu trúc, bất kì một hệ sinh thái nào cũng gồm 2 nhân tố cơ bản là nhân tố sinh vật và nhân tố vô sinh.
Các thành phần sống (sinh học) và không sống (phi sinh học) có quan hệ khăng khít với nhau và thường xuyên có tác động qua lại thông qua các chu trình dinh dưỡng và dòng năng lượng. Các yếu tố vô sinh gồm yếu tố vật lý (để tạo nguồn năng lượng): ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, áp suất, dòng chảy… Yếu tố vô cơ: gồm những nguyên tố và hợp chất hóa học cần thiết cho tổng hợp chất sống tham gia vào chu trình tuần hoàn vật chất và các chất hữu cơ (các chất mùn, acid amin, protein, lipid, glucid): đây là các chất có đóng vai trò làm cầu nối giữa thành phần vô sinh và hữu sinh, chúng là sản phẩm của quá trình trao đổi vật chất giữa 2 thành phần vô sinh và hữu sinh của môi trường. Về mặt chức 9 download by : skknchat@gmail.com năng có thể chia các loại sinh vật trong hệ sinh thái thành 3 nhóm: sinh vật sản xuất (hay tự dưỡng), sinh vật tiêu thụ (cấp 1, 2, 3), sinh vật phân hủy (các loại vi sinh vật động vật nhỏ bé hoặc các sinh vật hoại sinh). Trong hệ sinh thái luôn diễn ra các quá trình chính, đó là quá trình trao đổi năng lượng, tuần hoàn các chất và sự tương tác giữa các loài.
Nguồn năng lượng trong hệ sinh thái có nguồn gốc chủ yếu từ ánh sáng mặt trời (thông qua quang hợp) và năng lượng hóa học (thông qua chuỗi thức ăn). Thông qua chuỗi thức ăn, bậc dinh dưỡng trên sẽ nhận được khoảng 10% năng lượng từ bậc dinh dưỡng thấp. Mọi sinh vật sống chính là nguồn thực phẩm quan trọng cho các sinh vật khác [24]. Như vậy, có thể hiểu chuỗi thức ăn là một chuỗi sinh vật mà sinh vật sau ăn sinh vật trước, lưới thức ăn (food web) gồm nhiều chuỗi thức ăn.
Đặc trưng cơ bản của hệ sinh thái tự nhiên là khả năng tự lập lại cân bằng, nghĩa là mỗi khi bị ảnh hưởng bởi một nguyên nhân nào đó thì lại có thể phục hồi để trở về trạng thái ban đầu. Đặc trưng này được coi là khả năng thích nghi của hệ sinh thái. Khả năng tự thích nghi này phụ thuộc vào cơ chế cấu trúc - chức năng của hệ, thể chế này biểu hiện chức năng của hệ trong mỗi giai đoạn phát triển. Hệ xã hội là toàn bộ các thành phần xã hội, các sản phẩm khác nhau của văn hoá con người ở mức độ quần thể.
Nhân tố con người là nhân tố quan trọng trong mối quan hệ giữa hệ xã hội và hệ sinh thái. Con người là yếu tố cấu thành, yếu tố xây dựng của hệ sinh thái nhân văn, con người có nhận thức trong hệ sinh thái nhân văn [15]. Con người hiện đại không thể sống thiếu kĩ thuật và công nghệ, nhưng đồng thời cũng không thể sống tách rời khỏi thiên nhiên. Sự phát triển văn minh của xã hội loài người đã gây mâu thuẫn gay gắt giữa tri thức sản xuất xã hội với môi trường tự nhiên.
Việc giải quyết mâu thuẫn này là một trong những động lực để phát triển xã hội. Trước đây trong việc giải quyết mâu thuẫn này con người chỉ nhằm mục đích là thoả mãn nhu cầu sống ngày càng cao của mình và sự phát triển của xã hội, vì thế đã dẫn đến những hậu quả 10 download by : skknchat@gmail.com tiêu cực không lường trước được trong lĩnh vực sinh thái môi trường [11], [12]. Giải quyết mâu thuẫn này không chỉ vì lợi ích của con người và xã hội, mà phải tính đến sự sống của tự nhiên, đến sự tồn tại trong mối quan hệ hài hoà thật sự giữa xã hội và tự nhiên với tư cách như là những yếu tố cấu thành của một hệ thống toàn vẹn. Bản chất của vấn đề sinh thái học nhân văn còn phụ thuộc rất nhiều vào các vấn đề kinh tế - xã hội, chính trị, tư tưởng, văn hoá, nếp sống, truyền thống, tập tục v.
của một xã hội nhất định [9] [25]. Hơn thế nữa, môi trường sống của cộng đồng là môi trường tự nhiên và xã hội, hay tự nhiên và văn hoá.