CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG DẠY HỌC TOÁN THEO HƯỚNG TÍCH HỢP NỘI DUNG VÀ NGÔN NGỮ 1. Tổng quan về dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL) 1. Dạy môn Khoa học tích hợp nội dung và ngôn ngữ ở quốc tế Vào cuối thế kỉ XX, châu Âu đã dần dần gỡ bỏ các rào cản biên giới quốc gia và kết nạp thêm nhiều thành viên vào khối Liên minh châu Âu.
Vì vậy, cư dân ở các quốc gia tại châu lục này có quyền di chuyển tự do và tạo ra cơ hội việc làm đồng đều với tất cả cư dân trên châu lục này. Từ đó, họ cần phải có một nền tảng về ngôn ngữ và khoa học chung để mở rộng hơn các cơ hội việc làm của mình, tạo thành môi trường việc làm đa văn hóa, liên quốc gia. Trong giáo dục quốc gia ở các châu lục này, GV không những thông thạo tiếng mẹ đẻ mà còn cần sử dụng được cả ngôn ngữ thứ hai, chủ yếu là Tiếng Anh. Kết quả là từ đó hình thành ra việc các bộ môn, đặc biệt là các bộ môn Khoa học được tích hợp nội dung và ngôn ngữ thứ hai, phương pháp này được gọi là phương pháp dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL).
March và Maljers giới thiệu về CLIL đầu tiên vào giữa những năm 1990. Đó là một cách tiếp cận kiến thức giảng dạy thông qua ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ phụ. Việc tiếp cận này không những giúp cho HS tập trung được cả ngôn ngữ lẫn nội dung khoa học một cách linh hoạt. Coyle (2007) cho rằng [10] ‘‘CLIL là cách tiếp cận rất linh hoạt, nó khuyến khích việc dạy học theo những chương trình nhất định.
Chương trình này được thiết kế nhằm chuẩn bị về yếu tố chuyên môn kĩ thuật, dựa vào đó mục tiêu của bài giảng sẽ tập trung hơn vào mặt ngôn ngữ”. Do đó, CLIL cho thấy một cách tiếp cận hiệu quả hơn rất nhiều để phổ biến ngoại ngữ tại các lớp học mà không loại bỏ sự quan trọng của các bộ môn khác. Mô hình này còn tăng cường thêm hiểu biết sâu hơn về bộ môn, nâng cao các kĩ năng ngôn ngữ, thúc đẩy động lực cho HS – một cách tiếp cận đồng thời đặt trọng tâm về mặt ngôn ngữ và kiến thức. 6 Để đào tạo ra được các GV có thể sử dụng được phương pháp CLIL, dự án đào tạo giáo viên TESOL (gọi tắt của ‘‘Teaching English to Speakers of Other Languages’’) ra đời.
Đây là chương trình chuyên đào tạo và nâng cao kỹ năng giảng dạy tiếng Anh chuyên nghiệp để dạy cho người sử dụng ngôn ngữ khác. Thông qua quá trình đào tạo, người GV có thể nâng cao không chỉ về kĩ năng sư phạm trong việc dạy tiếng Anh, mà còn tích hợp được nội dung kiến thức của môn Khoa học và kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho HS. Phương pháp dạy học CLIL đã được sử dụng rộng rãi trên nhiều quốc gia, GV khoa học trong các chương trình tích hợp cần phải thông thạo ngôn ngữ học thuật, và có phương pháp sư phạm bài bản để có thể truyền đạt kiến thức cho HS một cách khoa học học, logic. Để đạt được năng lực trong giao tiếp và truyền đạt nội dung bài học, GV sẽ cung cấp cho HS những mẫu ngữ pháp cơ bản, những từ vựng liên qua đến nội dung chủ đề mà HS sẽ học.
Dạy môn Khoa học tích hợp nội dung và ngôn ngữ ở Việt Nam Chương trình tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL) là hình mẫu cho chương trình Giáo dục song ngữ tiếng Anh ở Việt Nam từ giai đoạn năm học 2007 – 2008, do Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai thực hiện thí điểm tại một số trường chuyên trọng điểm trong toàn quốc. Chương trình CLIL được sử dụng cụ thể trong các môn khoa học như : Toán, Khoa học tự nhiên (bao gồm Vật lí, Sinh học và Hóa học). Bộ GDĐT đã tổ chức Hội nghị tổng kết đánh giá 10 năm thực hiện dự án. Bản báo cáo tổng kết đã cho thấy những kết quả đạt được của chương trình được đánh giá cao với những thành tựu nổi bật.
Từ đó, thực hiện được các bước đệm trong công cuộc xây dựng chương trình giảng dạy song ngữ theo phương pháp CLIL. Một số khái niệm dạy học tích hợp 1. Khái niệm về Tích hợp Tích hợp theo tiếng gốc Latin là ‘‘intergration’’ với nghĩa là xác lập các chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ. Theo Từ điển Bách khoa Khoa học Giáo dục của Cộng hòa Liên bang Đức (Enzyklopadie Erziehungswissienscheft, Bd.2, Stuttgart 1984) nghĩa chung của từ integration có hai khía cạnh: - Quá trình xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất từ những cái riêng lẻ.
- Trạng thái mà trong đó có cái chung, cái toàn thể được tạo ra từ những cái riêng lẻ. Tóm lại, tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự kết hợp, sự hòa nhập. Trong dạy học các bộ môn, tích hợp là sự kết hợp và tổ hợp các nội dung từ hai đến nhiều môn học, hoặc tích hợp nội môn như như tích hợp nội dung Hình học và Đại số, lĩnh vực học tập khác nhau thành một “môn học mới”. Ví dụ, hiện nay, theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 tại Việt Nam, môn Khoa học tự nhiên được tích hợp từ các môn Vật lí, Hoá học, Sinh học; môn Nghệ thuật được tích hợp từ các môn Âm nhạc, Mĩ thuật.
Theo ‘‘Dạy học tích hợp ở trường THCS và THPT” – trang 9 của Bộ Giáo dục và Đào tạo [2] ‘‘Tích hợp cũng có thể lồng ghép kiến thức của bộ môn này vào một bộ môn khác”. Ví dụ, lồng ghép nội dung Giáo dục công dân vào môn Ngữ văn để HS nâng cao khả năng viết văn nghị luận… Vì vậy, tích hợp không đơn thuần là tích hợp bộ môn với nhau, mà còn tích hợp nội dung với nội dung để xây dựng mối liên kết kiến thức cho HS. Khái niệm về dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ [2] Theo ‘‘Dạy học tích hợp ở trường THCS và THPT” – trang 21 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ‘‘Dạy học tích hợp là dạy học nhằm hình thành ở HS những năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau”. Điều đó cũng có nghĩa là đảm bảo để mỗi HS biết cách vận dụng kiến thức học được trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ.
Dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ (Content and Language Integrated Learning) được hiểu là ‘‘sự hiện diện chính và có kế hoạch, song song với nhau của ít nhất hai ngôn ngữ trong nhà trường, để giao tiếp và để học tập’’ ; hay một quá trình dạy học trong đó ‘‘hai ngôn ngữ học tập của HS là ngôn ngữ thứ nhất (Language 1) thường là ngôn ngữ học tập chung của vùng, của quốc gia và ngôn ngữ thứ hai (Language 2) thường là ngoại ngữ, cũng có thể là tiếng địa phương…’’. Nói cách khác, sau khi HS được tiếp thu kiến thức, nội dung một môn học thông qua ngôn ngữ thứ nhất, HS sẽ được tiếp cận với kiến thức này nhưng ở ngôn ngữ thứ hai. Mục đích của phương pháp tích hợp nội dung và ngôn ngữ 1. Mục tiêu chung Việc sử dụng phương pháp tích hợp nội dung và ngôn ngữ giúp HS có thể sử dụng thành thạo ngôn ngữ thứ hai trong các thuật ngữ chuyên môn khoa học.
Việc sử dụng song song hai ngôn ngữ không những giúp khả năng giao tiếp và cơ hội học tập tốt hơn mà còn giúp bộ não có khả năng tư duy nhanh nhạy hơn rất nhiều. Theo nghiên cứu của London University (1998) trong bài ‘‘Sử dụng hai bán cầu não” thực hiện trên tổng số 105 người, trong đó có 80 người có thể sử dụng song ngữ, ‘‘cho thấy việc học ngoại ngữ đã thay đổi chất xám tại vùng não bộ chứa thông tin của họ. Lượng chất xám trên vùng não trái của người biết ngoại ngữ cao hơn nhiều so với người chưa 9 từng học ngoại ngữ. Việc học song song hai ngôn ngữ cũng giúp tăng khả năng ghi nhớ do hình thành nhiều nếp nhăn trên vỏ não”.
Ngôn ngữ giao tiếp và ngôn ngữ chuyên môn là hai khía cạnh hoàn toàn khác nhau. Nếu HS đơn thuần chỉ được học các ngôn ngữ giao tiếp thì không có các kiến thức chuyên sâu về chuyên môn. Vì vậy, việc tích hợp nội dung khoa học và ngoại ngữ, đặc biệt là Tiếng Anh, ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới giúp cho HS mở rộng cơ hội việc làm hơn, không những ở quốc gia nói tiếng mẹ đẻ, mà tại các quốc gia khác đòi hỏi yêu cầu chuyên môn cao về các môn Khoa học. Việc tiếp xúc sớm với các thuật ngữ chuyên môn giúp HS rút ngắn thời gian học tập tại nước ngoài, nhanh chóng trở thành lao động thích ứng được với yêu cầu của các quốc gia khác.
Chương trình dạy học truyền thống phần lớn theo quan điểm chỉ đơn thuần tiếp cận nội dung, nói cách khác là HS chỉ học nội dung môn học thông qua tiếng mẹ đẻ. Vì vậy, sẽ rất thiệt thòi cho HS ở quốc gia nào không sử dụng nhóm ngôn ngữ phổ biến trên thế giời như Tiếng Anh, Tiếng Trung hay Tiếng Nga. Một HS nếu chỉ có kiến thức chuyên môn tiếng mẹ đẻ sẽ rất ít có cơ hội làm việc trong môi trường quốc tế sau này, nên chương trình dạy học truyền thống tập trung nội dung có những hạn chế như sau : - Quá nặng về phần phân tích lý thuyết, không định hướng thực tiễn và hành động, không đáp ứng được yêu cầu chung của môi trường quốc tế. HS chỉ học kiến thức phổ cập trong quốc gia của họ.
- Thiếu và yếu kỹ năng quan hệ đa quốc gia. - Không giúp người học làm việc tốt trong nhóm do không có khả năng giao tiếp và am hiểu về ngôn ngữ chuyên ngành trong môi trường quốc tế. - Nội dung nặng và không đa dạng về thực hành. 10 Khi các môn học được tích hợp với nhau, thì sẽ đem lại các mục đích sau đến cho người học: - Tạo ra mối liên kết bền chặt giữa công tác đào tạo và người lao động.
- Giúp mở rộng các cơ hội việc làm quốc tế cho HS. - Khuyến khích người học học một cách toàn diện hơn, chủ động tìm tòi mà không bị hạn chế bởi ngôn ngữ. - Đẩy mạnh được tính độc lập, và chủ động của HS.