CHƯƠNG 1. CO SO LY LUẬN VÀ THỰC TIÊN 1. Tổng quan sơ lược một số nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Trên thế giới Các tô chức EU, UNESCO, OECD đã dành nhiều dự án nghiên cứu về NL CNTT: Khung NL điện tử Châu Au [22], du án e-Skill and ICT professionalism - Fostering the ICT Profession in Europe [32], Khung NL CNTT-TT đối với giao vién [39].
NLU CNTT liên quan đến học vẫn máy tính và thường được hiểu là những kiến thức, kỹ năng cần thiết để sử dụng có hiệu quả phần cứng vả phần mềm [35]. Romani (2009) [37] va Ferrari (2012) [24] cho rang NL CNTT liên quan đến học vấn số và NL kỹ thuật số. Điểm chung của các nghiên cứu trên là NL CNTT gắn liền với kỹ năng sử dụng máy tính để khai thác, xử lý và chia sẻ thông tin. Các nhà nghiên cứu cũng đã khăng định NL tích hợp CNTT trong dạy học của giáo viên là một yếu tô tác động mạnh nhất đến hiệu quả ứng dung CNTT trong day hoc.
Khi CNTT xuat hién trong lớp học, giáo viên trở thành điều phối viên tài nguyên học tập [38]. Từ cuối thập niên 80 của thế ki XX, nhiều nhà giáo dục Mỹ như Steven Cohen, Irwin Unger, Timothy J. Newby, Judith H, Sandholtz,. di dé cap dén viéc str dung CNTT trong dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của người hoc, trong đó các tác giả trên đã đề cập vai trò của CNTT và truyền thông như là một công cụ hỗ trợ các hoạt động dạy học, nhất là yếu tố đa phương tiện (Multimedia) có tác động tích cực đến các giác quan của HS; đề xuất các ý tưởng sư phạm trong quá trình dạy học có sự hỗ trợ của phương tiện kĩ thuật số theo hướng phát huy vai trò chủ động, tích cực của người học; xác định các yêu cầu, thuận lợi và khó khăn khi ứng dụng CNTT và truyền thông vào dạy học.
Tại Châu Âu, trung tâm nghiên cứu Chung - JRC (một đơn vị trực thuộc ủy ban Châu Âu) từ năm 2005 đã bắt đầu nghiên cứu về học tập và các kỹ năng cho kỉ nguyên số với mục đích đề hỗ trợ, làm chính sách dựa vào bằng chứng nhằm thúc đây tiềm năng các công nghệ số để khuyến khích đổi mới sáng tạo trong thực hành giáo dục và đào tạo; cải thiện truy cập tới học tập suốt đời, truyền đạt các kĩ năng và năng lực số mới cần thiết cho mọi người dân đề họ có nhiều cơ hội được tuyển dụng làm việc, phát triển cá nhân và hòa nhập xã hội. Nghiên cứu “Effects of technology in mathematics on achievement, motivation, and attitude: A meta-analysis " (Các ảnh hưởng của CNTT đối với thành tích toán học, động lực và thái độ: Một phân tích tổng hợp) của K. Crawford (2019), đã phân tích các ảnh hưởng của CNTTT trên thành tích toán học của học sinh và cho thấy rằng CNTT có thể đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của học sinh, đặc biệt là ở cấp độ trung học. Tuy nhiên, ảnh hưởng của CNTT đến thành tích học tập toán học không phải lúc nào cũng là tích cực.
Các ảnh hưởng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cách sử dụng CNTT, cách triển khai CNTT, và chất lượng của CNTT được sử dụng. Phân tích cũng cho thấy rằng sử dụng CNTT cũng có thể gây ra một số hạn chế, bao gồm giảm sự tương tác giữa GV và HS và làm giảm sự tập trung của HS vào bài học [26]. Tiếp đó, qua nhiều năm nghiên cứu cho tới năm 2017, Ủy ban Châu Âu đã xuất bản cuốn “DigComp 2.1 the digital competence framework for citizens with eight proficiency levels and examples of use” dich sang tiếng Việt là “Khung năng lực số cho các công dân với 8 mức thông thạo và các vi dụ sử dụng”. Nghiên cứu đã liệt kê và tóm lược vài ý chính của vài khung năng lực số của Liên minh châu Âu được cho là rất quan trọng dành cho các tô chức giáo dục, các nhà giáo dục, các công dân và người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, nghiên cứu còn có các kế hoạch hành động giáo dục sé [24]. Christine Redecker (2017) d& xuat ban “European Framework for the Digital Competence of Educators” dich sang tiếng Việt là “Khung năng lực số cho các nhà giáo dục của Châu Âu DigCompEdu”. Nghiên cứu này trình bày khung để phát triển năng lực số của các nhà giáo dục ở Châu Âu [36]. Bên cạnh đó còn có những tài liệu về việc ứng dụng CNTT vào dạy học, trước hết phải kể đến bộ giáo trình “7each to the Future” (Day hoc cho tuong lai) của Intel (2013) và bộ giáo trinh “Partner in Learning” của Microsoft [3T].
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến năng lực số, vai trò và các ứng dụng CNTTT vào dạy học các môn học nói chung. Chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến việc phát triển năng lực số, năng lực CNTT cho HS THCS thông qua dạy học môn toán nói chung và dạy học hình học trực quan nói riêng. Ở Việt Nam Trong nước, từ giữa năm 90 của thế ki XX, hướng nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học mới băt đâu được quan tâm. Dù tiêp cận ở góc độ nào, các tác giả đêu 6 khẳng định vai trò của CNTT trong việc cải tiến và nâng cao chất lượng dạy học.
Gần đây, một số nhà nghiên cứu giáo dục đã bước đầu quan tâm, nghiên cứu về sử dụng CNTT như một thiết bị, phương tiện trực quan dạy học hiện đại. Nhiều nghiên cứu về ứng dụng CNTTT trong dạy học bộ môn, đổi mới PPDH với sự hỗ trợ của CNTT; Sử dụng CNTT dé tích cực hóa hoạt động học tập của HS; Thiết kế bài giảng có sự hỗ trợ của CNTT; Ứng dụng CNTT trong kiểm tra, đánh giá;. Bài viết “Kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong dạy học Toán” của Đặng Thị Thu Thủy (2014) đề xuất một số biện pháp ứng dụng CNTT, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán. Theo bài viết, với sự tham gia của CNTT, môi trường dạy học thay đôi, có tác động mạnh mẽ tới mọi thành tố của quá trình dạy học và tác động tới đôi mới PPDH môn Toán như: hỗ trợ HS tìm hiểu sâu nội dung kiến thức; rèn luyện kỹ năng, củng cô ôn tập kiến thức cũ; rèn luyện, phát triển tư duy toán học; đổi mới phương pháp và hình thức dạy học môn Toán [42].
Nguyễn Thị Yến (2016) trong “Phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh trong dạy học lịch sử lớp 10 ở trường trung học phổ thông” đã nghiên cứu VỀ vai trò, ý nghĩa của CNTTT trong dạy học lịch sử và đề xuất một số biện pháp phát triển năng lực sử dụng CNTT cho HS phổ thông [1S]. Bài báo “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Toán qua dạy học chủ đề phép biến hình ở trường trung học phô thông” của nhóm tác giả Đỗ Hồng Minh và Pham Thu Hằng (2021) cho thấy ứng dụng CNTT trong dạy học góp phần phát huy tính tích cực, sáng tạo và chủ động của người học. Cũng trong bài viết, các tác giả đã giới thiệu một số phần mềm có thể khai thác và sử dụng trong môn Toán. Đồng thời, bài báo trình bày cách thức khai thác ứng dụng CNTT trong dạy học chủ đề “Phép biến hình” và một số ví dụ ứng dụng CNTT vào thiết kế một số tình huống điền hình trong dạy học nội dung “Phép biến hình”" trong chương trình Hình học 11 ở trường THPT [11].
Phan Thị Tình (2021) trong “Phát triển năng lực công nghệ thông tin cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học ở trường sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” đã đề xuất các biện pháp phát triển năng lực công nghệ thông tin cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học tại các trường sư phạm đáp ứng yêu cầu đôi mới giáo dục [15]. Gần đây đã có một số nghiên cứu về năng lực số, năng lực công nghệ thông tin của học sinh ở Việt Nam như: “Xây dựng khung năng lực số cho học sinh phổ thông 7 Việt Nam” của nhóm tác giả Lê Anh Vinh, Bùi Diệu Quỳnh, Đỗ Đức Lân, Đào Thái Lai, Ta Ngoc Tri (2021); “Hiểu về năng lực số của học sinh Việt Nam” — Nguyễn Thanh Nhàn (2021) (ĐH Ngoại Thương);. Các nghiên cứu đã chỉ rõ tầm quan trọng và ảnh hưởng của năng lực số nói chung và năng lực CNTT nói riêng của HS. Nhóm tác giả Lê Anh Vinh, Bùi Diệu Quỳnh, Đỗ Đức Lân, Đào Thái Lai, Tạ Ngọc Trí (2021) trong bài báo “Xây dựng khung năng lực số cho học sinh phổ thông Việt Nam” đã trình bày chi tiết về khung năng lực số dành cho học sinh Việt Nam với mong muốn góp phần cung cấp thông tin cho các nhà nghiên cứu về cách tiếp cận xây dựng năng lực số của trẻ em trong nhà trường hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam.
Bài viết tổng quan nghiên cứu các định nghĩa về năng lực số, tìm hiểu các khung năng lực số trên thế giới, rà soát Chương trình GDPT 2018 môn Tin học, từ đó đề xuất khung năng lực số cho học sinh phô thông Việt Nam [16]. Nguyễn Thanh Nhàn (2021) trong bài viết “Hiểu về năng lực số của học sinh Việt Nam” cũng chỉ rõ kiến thức về lĩnh vực công nghệ số là trụ cột quan trọng trong việc phát triển giáo dục phô thông, đặc biệt đối với thế hệ trẻ sinh từ năm 2002 đến năm 2010. Bai viết chỉ ra rằng, bên cạnh việc trang bị kiến thức cho học sinh, người dạy cần có những biện pháp bảo vệ các em khỏi những rủi ro trực tuyến không đáng có [41]. Như vậy, có thé nói, đã có một số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đề cập đến về năng lực số nói chung và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nói riêng và phát triển năng lực công nghệ thông tin cho sinh viên, học sinh.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu dạy học chủ đề “Hình học trực quan” theo hướng phat trién năng lực công nghệ thông tin cho học sinh lớp 6. Năng lực và phát triển năng lực Khái niệm năng lực có nguồn gốc Latinh “competentia” có nghĩa là “gặp gỡ”. Trong tiếng Anh, khái niệm năng lực hay khả năng tương ứng với các thuật ngữ “competence”, “ability” hay “capability”. Có rất nhiều định nghĩa về năng lực và khái niệm này thu hút sự quan tâm của rât nhiêu nhà nghiên cứu.
Theo từ điển tiếng Việt, năng lực là phâm chất tâm lí va sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao, hay “khả năng làm việc tốt” [17].