CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TƯ THỤC VÀ KHUNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ VÀO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TƯ THỤC TẠI VIỆT NAM 1. Tổng quan về trường đại học tư thục tại Việt Nam 1. Lịch sử hình thành hệ thống các trường đại học tư thục tại Việt Nam Việt Nam có truyền thống giáo dục đại học đã từ rất lâu đời. Minh chứng rõ ràng nhất là Văn Miếu Quốc Tử Giám được thành lập từ năm 1070 và đã trở thành trường đại học đầu tiên của Việt Nam7 và là một trong những trường đại học lâu đời nhất trên thế giới.
Từng là nơi chỉ đào tạo con em vua chúa và quan lại, Văn Miếu Quốc Tử Giám đã mở rộng phạm vi tiếp nhận sinh viên vào năm 1253, khi vua Trần Thái Tông ban chiếu cho phép con em thường dân được theo học tại đây. Sự kiện này đã góp phần đưa giáo dục đại học trở thành một quyền lợi chung của toàn dân, đặt nền móng cho sự phát triển vững mạnh của giáo dục trong các thế kỷ tiếp theo. Trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến 1975, khi đất nước Việt Nam bị chia cắt, hai miền Nam - Bắc tồn tại song hành với hai hệ thống giáo dục đại học riêng biệt. Miền Bắc, dưới sự hỗ trợ của Liên Xô, mang đậm dấu ấn của nền giáo dục Xô Viết.
Còn miền Nam, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ hệ thống giáo dục thuộc địa của Pháp và sau đó là của Hoa Kỳ. Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam được hợp nhất. Tuy nhiên, trong 11 năm tiếp theo, đất nước tiến hành phát triển theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, dẫn đến tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng. Nền kinh tế suy thoái, lạm phát gia tăng, đời sống 7 Nguyên Đức (2006), “Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của Việt Nam”, Báo điện tử Dân trí, < https://dantri.vn/xa-hoi/van-mieu-quoc-tu-giam-nhung-dieu-can-biet-1138279969.htm>, truy cập ngày 12/05/2024.
10 người dân gặp nhiều khó khăn. Giáo dục đại học cũng chịu ảnh hưởng tiêu cực, rơi vào trạng thái trì trệ.8 Kể từ năm 1986, khi đường lối đổi mới được thực thi, nền kinh tế Việt Nam đã có bước hồi phục ngoạn mục. Việc áp dụng kinh tế thị trường cùng các biện pháp khuyến khích đã góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Văn kiện Đảng tại Tập 55 đưa ra hàng loạt những số liệu ấn tượng trong 5 năm từ năm 1991 đến năm 1995, trong đó có “nhịp độ tăng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 8,2% cao hơn cả kế hoạch mong đợi ban đầu là chỉ khoảng 5,5% đến 6,6%”9.
Với những thành quả phát triển kinh tế mạnh mẽ đã kéo theo một nhu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực chất lượng. Việt Nam không chỉ cần gia tăng số lượng lao động mà còn cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để hội nhập thành công vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Mấu chốt của vấn đề nằm ở quy mô và chất lượng hệ thống giáo dục và đào tạo. Với nguồn ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục là hạn chế, việc chỉ tập trung vào phát triển các trường đại học công không còn là giải pháp tối ưu.
Điều này có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong lĩnh vực tư nhân đặt yêu cầu rất cao với nguồn nhân lực. Nhận thức rõ vấn đề này, Chính phủ đã triển khai các chính sách linh hoạt trong đầu tư giáo dục, tạo điều kiện thu hút đầu tư từ nhiều nguồn lực trong nước và ngoài nước khác nhau. Chính sách này không chỉ góp phần đảm bảo cân bằng xã hội mà còn thúc đẩy cuộc cách mạng trong giáo dục. Sự kết hợp hiệu quả giữa các cơ sở giáo dục đại học công lập và tư thục là điều cần thiết đối với nền kinh tế của Việt Nam thời bấy giờ và ngay cả hiện tại.
8 Pham Lan Huong (2002), “The Emergence of Private Higher Education in Vietnam: Challenges and Opportunities”, Educational Research for Policy and Practice 1, <https://doi.1023/A:1021130320485>, truy cập ngày 12/07/2024. 9 Đảng Cộng sản Việt Nam, “Văn kiện Đảng toàn tập (1996)”, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Tập 55, tr 348. 11 Hội nghị Hiệu trưởng các trường đại học năm 1987 ở Nha Trang đã đề cập đến bốn tiền đề quan trọng trong giáo dục đại học tại Việt Nam. Đầu tiên, giáo dục đại học cần đáp ứng nhu cầu của Nhà nước, doanh nghiệp và mọi tầng lớp trong xã hội.
Thứ hai, ngoài nguồn lực từ ngân sách Nhà nước, giáo dục còn có thể huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, tổ chức xã hội và người dân. Thứ ba, giáo dục cần linh hoạt để đáp ứng thị hiếu và nhu cầu của các tầng lớp xã hội. Cuối cùng, sinh viên cần tự tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp hoặc tự mở cơ sở kinh doanh, với trường đào tạo và khuyến khích nâng cao năng lực để thích ứng với yêu cầu thực tế của từng lĩnh vực10. Từ nền tảng của bốn quan điểm trên, để gia tăng chất lượng giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường, mô hình đại học đa lĩnh vực được đề xuất là cần thiết nhằm cải cách giáo dục trường đại học.
Năm1988, Giáo sư Hoàng Xuân Sính cùng với Giáo sư Bùi Trọng Liễu và Giáo sư Bùi Trọng Lựu đã sáng lập nên Trung tâm đại học dân lập Thăng Long tại Hà Nội. Chất lượng tuyển sinh bước đầu không như mong đợi bởi tâm lý e dè của người dân miền Bắc với các mô hình ĐHTT. Do số lượng sinh viên hạn chế và mức thu học phí thấp chỉ khoảng 100 đô la Mỹ mỗi năm, Trung tâm đại học Thăng Long gặp nhiều khó khăn trong việc đầu tư vào các hạng mục mới và trang bị đầy đủ cơ sở vật chất11. Với bối cảnh kinh tế Việt Nam những năm bấy giờ khiến việc vận hành đại học Thăng Long gặp muôn vàn trở ngại.
Song, trường đại học này lại là minh chứng cho một nỗ lực tiên phong trong việc đổi mới phương thức giáo dục, mở ra hướng đi mới cho mô hình giáo dục hiện đại – mô hình trường ĐHTT. Sau giai đoạn đầu đầy khó khăn, Việt Nam đã chứng kiến sự nở rộ của giáo dục ĐHTT, đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của hệ thống giáo dục. Sau sự “chào sân” tiên phong của đại học Thăng Long, nhiều cơ sở giáo dục tư thục lần lượt ra đời, đáp ứng nhu 10 Lâm Quang Thiệp (2017), “Đại học Việt Nam 1987, Hội nghị Nha Trang và "bốn tiền đề”, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, < https://giaoduc.vn/dai-học-viet-nam-1987-hoi-nghi-nha-trang-va-bon-tien-de- post179617.gd>, truy cập ngày 14/08/2024. 11 Pham Lan Huong (2002), “The Emergence of Private Higher Education in Vietnam: Challenges and Opportunities”, Educational Research for Policy and Practice 1, <https://doi.1023/A:1021130320485>, truy cập ngày 12/07/2024.
12 cầu ngày càng cao của xã hội. Nổi bật trong số đó tại Hà Nội có thể nhắc tới Trường đại học Đông Đô, trường đại học Phương Đông. Tại Thành phố Hồ Chí Minh có Trường đại học Văn Lang (VLU), Trường đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (HUTECH), Trường đại học Hồng Bàng, Trường đại học Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí Minh (HUFLIT) cũng sớm bắt kịp xu hướng góp mặt, khẳng định sự phát triển của giáo dục tư thục ở khu vực miền nam. Không chỉ tập trung ở các đô thị, các tỉnh thành khác cũng chứng kiến sự xuất hiện của nhiều trường đại học, cao đẳng tư thục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Đến nay, hành trình phát triển giáo dục ĐHTT tại Việt Nam đã bước sang trang mới sau hơn ba thập kỷ. Từ những viên gạch đầu tiên được đặt nền móng, mô hình giáo dục này đã khẳng định vị thế vững chắc trong hệ thống giáo dục quốc gia. Tại hội thảo “Hoàn thiện chính sách, pháp luật về đại học tư thục” diễn ra ngày 22 tháng 01 năm 2018 tại Thành phố Hồ Chí Minh, thu hút sự quan tâm và tham gia của rất nhiều các chuyên gia, nhà quản lý và hiệu trưởng các trường đại học, nhiều ý kiến được đưa ra, khẳng định sự phát triển vượt bậc của giáo dục ĐHTT trong những năm gần đây. Điều đáng chú ý là tính đến năm 2018, giáo dục ĐHTT châu Á ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng nhất, thu hút đến 35% tổng số sinh viên và chiếm gần 60% tổng số cơ sở giáo dục12.
Trường đại học Trường đại học Tổng số Năm học tư thục công lập trường đại học 2013-2014 58 156 214 2014-2015 60 159 219 2015-2016 60 163 223 2016-2017 65 170 235 12 Thanh Thủy (2018), “Vai trò của đại học tư thục với nền giáo dục hiện đại”, Báo Điện tử Chính Phủ, <https://baochinhphu.vn/print/vai-tro-cua-dai-học-tu-thuc-voi-nen-giao-duc-hien-dai-102233755.htm>, truy cập ngày 28/07/2024. 13 Trường đại học Trường đại học Tổng số Năm học tư thục công lập trường đại học 2017-2018 65 170 235 2018-2019 65 172 237 2019-2020 65 172 237 2020-2021 66 175 241 2021-2022 67 175 242 Bảng 1: Số lượng trường đại học tại Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2022 Nguồn Bộ Giáo dục và Đào tạo (Số liệu thống kê giáo dục đại học) Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến năm học 2021 – 2022, Việt Nam có 67 trường ĐHTT, chiếm 27,69% trong tổng số 242 trường đại học trên toàn quốc13. Dù chưa chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số trường đại học, nhưng sự gia tăng về số lượng trường ĐHTT vẫn là một tín hiệu tích cực, cho thấy mô hình giáo dục ĐHTT đang dần khẳng định vị thế của mình trong hệ thống giáo dục quốc gia. Khái niệm trường đại học tư thục Bắt đầu kỷ nguyên đổi mới, giáo dục và đào tạo được xác định là ưu tiên hàng đầu trong chính sách quốc gia, là một nhiệm vụ cần phải được Nhà nước và toàn dân chú trọng.
Để thúc đẩy phát triển của lĩnh vực giáo dục, việc tăng cường hiệu quả của quản lý giáo dục từ phía Nhà nước là rất cần thiết, nâng cao trình độ tri thức, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng tài năng để phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Nhằm củng cố cho chủ trương trên, năm 1998, Luật Giáo dục đầu tiên của Việt Nam đã được ra đời14. Tuy nhiên, vì là văn bản đầu tiên pháp điển hóa về giáo dục nên các quy định của Luật Giáo dục 1998 còn khá chung, chưa đi 13 Số liệu không bao gồm các trường đại học, học viện thuộc khối An ninh, Quốc phòng. 14 Luật Luật Giáo dục 1998 (Luật số 11/1998/QH14 ngày 02 tháng 12 năm 1998).
14 vào chi tiết.