Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vì PTBV. Chương 2: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vì PTBV ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2012. Chương 3: Giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vì PTBV ở Việt Nam đến năm 2020 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÌ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1.1 Lý luận chung về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư là sự bỏ ra những nguồn lực vào một công việc nào đó nhằm thu lợi lớn trong tương lai [1]. Nhưng không phải bất kể một sự bỏ ra, sự chi phí nào cũng được coi là đầu tư.
Có hai đặc trưng để phân biệt một hoạt động được coi là đầu tư hay không đó là: tính sinh lãi và rủi ro trong đầu tư. Thực vậy, nếu người ta chi phí ra để mua một thứ hàng hóa cho tiêu dùng thông thường thì không thể có yếu tố đầu tư trong đó. Tuy nhiên, nếu hoạt động đầu tư nào cũng sinh lãi mà không có sự rủi ro thì mọi người đều trở thành nhà đầu tư. Chính hai thuộc tính này đã phân hóa, sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển.
Người bỏ vốn ra đó được gọi là nhà đầu tư hay chủ đầu tư, chủ đầu tư có thể là cá nhân, tổ chức hay nhà nước. Chủ đầu tư có thể đầu tư dưới nhiều hình thức như bỏ vốn tài sản ra để lập cơ sở sản xuất kinh doanh mới, hay mua lại cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có và trực tiếp quản lý, đó là hình thức đầu tư trực tiếp. Còn nếu bỏ vốn ra để mua các chứng chỉ có giá như cổ phiếu, trái khoán nhằm hưởng lợi tức mà không trực tiếp quản lý tài sản của mình thì đó là đầu tư gián tiếp hay đầu tư tài chính. Nhưng sự phân biệt này cũng chỉ mang tính tương đối, bởi vì hiện nay không ít trường hợp chỉ là đầu tư cổ phiếu nhưng lại có giá trị đủ lớn để trở thành người quản lý công ty.
Theo lý thuyết kinh tế chính trị Mác – Lênin, đầu tư nước ngoài là một hình thức của xuất khẩu tư bản. Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra bên ngoài (đầu tư tư bản ra nước ngoài) nhằm mục đích thu được giá trị thặng dư và các nguồn lợi khác ở các nước nhập khẩu tư bản. [3] Vào cuối thế kỷ XIX 7 z đầu thế kỷ XX xuất khẩu tư bản trở thành phổ biến vì: Trong một số ít nước phát triển đã tích luỹ được một khối lượng tư bản kếch xù và một bộ phận tư bản đã trở thành “Tư bản thừa” do không tìm được nơi đầu tư có tỷ suất lợi nhuận cao ở trong nước; Khả năng xuất khẩu tư bản xuất hiện do nhiều nước lạc hậu về kinh tế bị lôi cuốn vào sự giao lưu kinh tế thế giới, nhưng lại rất thiếu tư bản. Ở các nước đó giá ruộng đất lại tương đối hạ, tiền lương thấp, nguyên liệu rẻ nên tỉ suất lợi nhuận cao; Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì mâu thuẫn kinh tế - xã hội ngày càng gay gắt, xuất khẩu tư bản trở thành biện pháp làm giảm mức độ gay gắt đó.
Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, xuất khẩu tư bản là đặc điểm nổi bật, có tầm quan trọng đặc biệt và trở thành sự cần thiết của chủ nghĩa tư bản. Quá trình xuất khẩu tư bản được tiến hành một cách trực tiếp dưới các hình thức đầu tư tư bản ra nước ngoài giữa các nước tư bản phát triển sang các nước đang phát triển. Đây là quá trình vận động hai chiều của xuất khẩu tư bản. Xuất khẩu tư bản của các nước tư bản phát triển sang các nước đang phát triển nhằm chiếm được thị trường tiêu thụ, nguyên vật liệu, lao động rẻ.
Nhờ vào xuất khẩu tư bản, chủ nghĩa đế quốc đã tăng cường địa bàn đầu tư có lợi nhất cho bản thân mình với các nước lạc hậu chậm phát triển, lợi nhuận mà các nước tư bản này nhận được thường lớn hơn nhiều so với đầu tư phát triển trong nước. Vì ở đó tư bản vẫn còn ít, giá trị đất đai tương đối thấp, tiền công hạ, nguyên liệu rẻ và phong phú. Bên cạnh đó, xuất khẩu tư bản cũng tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi cho các nước được đầu tư để khai thác các tài nguyên thiên nhiên, xây dựng cơ sở hạ tầng, đường xá… Ngoài ra, xuất khẩu tư bản là hình thức đầu tư của tư bản nước ngoài nhằm thu lợi nhuận cao nhất, vì nó giải quyết được nhu cầu thay đổi công nghệ liên tục ở chính quốc, tận dụng vòng đời của công nghệ cũ, lợi dụng những ưu đãi và chi phí sản xuất thất ở nước nhận đầu tư, các nhà tư bản 8 z không ngừng mở rộng thị trường và khả năng cạnh tranh nhằm thu được lợi nhuận tối đa. Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu tư bản “thừa tương đối” làm cho các nước tư bản mở rộng địa bàn đầu tư phát triển tiềm lực kinh tế của một đất nước.
Sự lớn mạnh về kinh tế dẫn tới các nước tư bản phát triển sẽ giành được vị trí của mình trên thế giới khống chế được các nước về mặt chính trị. Như vậy, việc xuất khẩu tư bản ra nước ngoài, ngoài mục tiêu lợi nhuận còn vì mục tiêu sâu xa hơn về chính trị. Sự thâu tóm về kinh tế đối với các nước khác trên thế giới gắn với sự thống trị về chính trị, đây là một tác động khách quan của quá trình xuất khẩu tư bản từ khi ra đời cho đến nay. Xuất khẩu tư bản có hai hình thức: Xuất khẩu tư bản trực tiếp và xuất khẩu tư bản gián tiếp.
Xuất khẩu tư bản trực tiếp: Là hình thức xuất khẩu tư bản bằng cách đưa vốn và công nghệ tới các nước khác nhằm tận dụng các ưu thế của các nước đó (giá thuê đất , giá nhân công, tài nguyên…) nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận cao và chiếm lĩnh thị trường nước đó. Hình thức này xuất hiện muộn hơn nhiều so với hình thức xuất khẩu tư bản gián tiếp, nó xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX và phát triển mạnh mẽ ttong thế kỷ XX. [3] Xuất khẩu tư bản gián tiếp: Là hình thức xuất khẩu tư bản bằng cách cho các chính phủ của các nước khác vay hoặc đầu tư vào thị trường tài chính của các nước đó nhằm tìm kiếm một mức lợi tức cao. Hình thức này đã xuất hiện từ lâu trong nhiều nền kinh tế và nó thường được biểu hiện dưới dạng cho vay tư bản để kiếm lãi suất.
[3] Hiện nay, còn có nhiều quan niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài như: Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền 9 z kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó”. Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) cũng đưa ra một khái niệm về FDI. Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI.
FDI gồm có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty. Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là người sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác. Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đổi với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này” [29] Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một DN có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết.
Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty”. Tuy nhiên không phải tất cả các quốc gia nào đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định FDI. Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ 10 z hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc lớn hơn nhưng vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp. Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiên tối đa hoá lợi ích của mình”[44].
Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng và giấy phép có giá trị …), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ…). Như vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài. Hai đặc điểm cơ bản của FDI là: có sự dịch chuyển tư bản trong phạm vi quốc tế và chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lí đối tượng đầu tư.