CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan ngành nhựa ở Việt Nam Nhựa là thuật ngữ chung để chỉ một loại vật liệu dẻo tổng hợp hay bán tổng hợp được dử dụng phổ biến ở tất cả các lĩnh vực.Vật liệu nhựa là một hợp chất hữa cơ được chế tạo từ dầu mỏ và các nguyên liệu như xenlulozo, than đá hay khí tự nhiên. Nhựa bao gồm nhựa nhiệt dẻo và nhựa nhiệt rắn: - Nhựa nhiệt dẻo là nhựa có thể làm mềm, nóng chảy dưới tác dụng của nhiệt độ, khi nguội sẽ đóng rắn lại. Khi mềm có có thể ép khuôn và có hình dạng mới khi nguội, quá trình này có thể lặp lại nhiều lần mà đặc tính của nó không thay đổi.
Các loại nhựa dẻo phổ biến bao gồm PolyEthylen và dẫn xuất của chúng (HDPE, LDPE, LLDPE), PolyPropylen, PolyStyren và PonyVinyl Clorua [14]. - Nhựa nhiệt rắn là hợp chất cao phân tử có khả năng chuyển sang trạng thái không gian ba chiều dưới tác dụng của nhiệt độ hay các phản ứng hóa học nhưng sau đó không nóng chả hay hòa tan được nữa, không thể tái chế thành các sản phẩm khác như nhự nhiệt dẻo. Các loại nhựa nhiệt rắn phổ biến là nhựa Epoxy, Melamine, Phenolic, Polyurethane và Urea [14]. Nhựa nhiệt dẻo với những đặc tính hóa lý nổi trội hơn và có giá thành thấp hơn do đó chiếm lĩnh 75% trong cơ cấu sử dụng chất dẻo toàn cầu, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực.
Trong cơ cấu sử dụng nhựa nhiệt dẻo, PE và PP là nhựa được sử dụng nhiều nhất chiếm khoảng trên 60% tổng lượng nhựa nhiệt dẻo, được ứng dụng để sản xuất bao bì, màng bọc,. chiếm 15% tổng lượng nhựa nhiệt dẻo là nhựa PVC chủ yếu được sử dụng làm ống dẫn hay các sản phẩm dân dụng như giày dép,. Các loại nhựa khác chiếm khoảng 22% tổng lượng nhựa nhiệt dẻo. Vì nhiệt rắn không thể tái chế như nhựa nhiệt dẻo và đa số các sản phẩm nhựa được sản xuất bằng nhựa nhiệt dẻo do đó trong phạm vi khóa luận của mình em xin phép chỉ trình bày về nhựa nhiệt dẻo.
3 Hình 1: Tỷ trọng sử dụng chất dẻo và nhựa nhiệt dẻo [14] 1. Ngành công nghiệp nhựa ở Việt Nam Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, ngành nhựa hiện tại có khoảng hơn 3.300 doanh nghiệp đang hoạt động. Trong đó các doanh nghiệp sản xuất trong mảng nhựa bao bì chiếm tỷ trọng lớn nhất với 41% trong cơ cấu tương đương với khoảng 1. Các doanh nghiệp hoạt động trong hai mảng là nhựa xây dựng và nhựa dân dụng chiếm lần lượt 24% và 20% trong tổng số các doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam[13].
Theo khu vực địa lý, các doanh nghiệp ngành nhựa tập trung chủ yếu ở khu vực miền Nam với khoảng 54% số doanh nghiệp đang hoạt động tại khu vực này. Khu vực miền Bắc và miền Trung tập trung lần lượt 37% và 9% phân bố của các doanh nghiệp ngành nhựa[13]. Nguyên nhân các doanh nghiệp ngành nhựa tập trung chủ yếu ở khu vực miền Nam và khu vực miền Bắc là vì đây là hai khu vực trọng điểm kinh tế nơi tập trung đông dân cư cũng như các doanh nghiệp sản xuất và chế biến đồ uống, thực phẩm. Miền Bắc 37% Miền Trung 54% Miền Nam 9% Hình 2: Cơ cấu doanh nghiệp ngành nhựa theo vùng địa lý So với các ngành công nghiệp khác thì ngành công nghiệp nhựa ở nước ta vẫn còn khá mới và non trẻ tuy nhiên lại là một trong các ngành công 4 nghiệp có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh so với nền kinh tế nói chung.
Trong giai đoạn từ 2012 đến 2017, ngành nhựa Việt Nam tăng trưởng trung bình 11,6% một năm nhanh hơn so với mức tăng trưởng 3,9% của ngành nhựa thế giới và nhanh hơn so với mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,2% của Việt Nam trong cùng giai đoạn [13]. Các sản phẩm đầu ra của ngành nhựa Việt Nam được ứng dụng trong rất nhiều các lĩnh vực khác nhau từ tiêu dùng, thương mại cho đến xây dựng, lắp ráp,… và được phân chia làm bốn mảng chính là các sản phẩm nhựa bao bì, nhựa dân dụng, nhựa xây dựng và nhựa kỹ thuật. Hình 3: Cơ cấu ngành nhựa Việt Nam [13] - Nhựa bao bì: Đây là dòng sản phẩm có giá trị gia tăng thấp nhưng lại chiếm tới 35% giá trị sản xuất và tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam. Ngành hàng tiêu dùng trong nước tăng trưởng tốt nhờ nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của dân cư gia tăng là yếu tố then chốt giúp ngành nhựa bao bì đảm bảo đầu ra vững chắc.
Bao bì nhựa là một ngành giao nhau giữa hai ngành Nhựa và Bao bì. Ngành bao bì nhựa có thể được phân loại thành: + Bao bì mềm, phục vụ chủ yếu cho ngành thực phẩm + Chai lọ nhựa đóng hộp phục vụ chủ yếu cho lĩnh vực nước giải khát + Bao bì cứng: Theo báo cáo của Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), 66% giá trị xuất khẩu nhựa hàng năm của Việt Nam là nhựa bao bì. Nhựa bao bì cũng là mặt hàng nhựa xuất khẩu chủ yếu của ngành nhựa Việt Nam, các thị trường chính bao gồm Mỹ, Nhật Bản, EU. 5 - Nhựa vật liệu xây dựng: Chiếm 24% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm như ống nước, khung cửa chính, cửa sổ.
Nhờ thị trường bất động sản đang hồi phục và các hoạt động xây dựng dân dụng, hạ tầng gia tăng với nhiều dự án có quy mô lớn và vốn đầu tư cao, đặc biệt là các dự án về xây dựng nhà xưởng và cơ sở hạ tầng phục vụ công nghiệp, hạ tầng giao thông, nâng cấp đường bộ… nên thị trường tiêu thụ VLXD được kỳ vọng sẽ được mở rộng mạnh mẽ với tiềm năng cao. - Nhựa gia dụng: Chiếm khoảng 22 % giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm gia dụng như nội thất, tủ, đĩa, đồ chơi, và giầy dép. Các công ty trong nước chủ yếu tập trung sản xuất nhóm sản phẩm này, nhưng thường có biên lợi nhuận thấp, trong khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tập trung ở phân khúc sản phẩm cao cấp, có giá trị và biên lợi nhuận cao. Trong những năm gần đây, các sản phẩm nhựa gia dụng Việt Nam chiếm tới 90% thị phần nội địa và tập trung ở phân khúc bình dân.
- Nhựa công nghệ cao: Chiếm 19% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm như phụ tùng nhựa, dùng tron g lắp ráp ô-tô, xe máy, thiết bị y tế và trang thiết bị dùng trong công nghiệp composite. Theo FAO, 1,8 triệu tấn là lượng nhựa được phát hành tại Việt Nam mỗi năm. Người Việt tiêu thụ hơn 41 kg nhựa/năm. Tiêu thụ nhựa bình quân đầu người tại Việt Nam đã tăng mạnh mỗi năm từ 3,8 kg lên 41,3 kg/người trong thời gian 1990-2018.
Việt Nam ước tính sử dụng và thanh lý hơn 30 tỷ túi nilon mỗi năm. Theo báo cáo của Hiệp hội nhựa, năm 2015, Việt Nam sản xuất và tiêu thụ khoảng 5 triệu tấn nhựa nguyên liệu chủ yếu là nhập khẩu, Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu vì nguồn nguyên liệu trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu, chưa tự chủ sản xuất được PE, PP đáp ứng được 15%, PET là 30% và PVC là 50% nhu cầu trong nước [14]. Nguyên liệu nhựa trong nước sản xuất được chỉ đáp ứng được khoảng 20% tổng nhu cầu, 80% còn lại phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Việc nhập siêu nguyên liệu khiến doanh nghiệp trong nước khó chủ động do biến động giá của các nguyên liệu hóa thạch như dầu mỏ, than đá vì những nguồn nguyên liệu này chiếm tới 80% giá thành của sản phẩm nhựa [14].
Việc biến động giá hay tăng giảm khả năng cung - cầu sẽ ảnh hưởng tới các doanh nghiệp trong ngành trở ngại cho sự tăng trưởng của ngành nhựa Việt Nam. Các vấn đề môi trường do rác thải nhựa ở Việt Nam Ngành công nghiệp nhựa phát triển tất yếu sẽ gây nên tình trạng ô nhiễm rác thải nhựa. Theo Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới IUCN mỗi năm có khoảng 8 triệu tấn rác thải nhựa đổ ra biển. Rác thải nhựa trên biển có nguồn gốc chủ yếu là từ đất liền (khoảng 80%), phần còn lại là đổ thải trực tiếp ra biển.
Rác thải nhựa là vấn đề của toàn cầu, đặc biệt đối với nước có bờ biển dài như nước ta vấn đề ô nhiễm môi trường do rác thải nhựa lại càng trở nên nghiêm trọng, ảnh hưởng tới toàn bộ hệ sinh thái. Theo Greenhub Việt Nam với khoảng 30 triệu tấn rác thải được tạo ra hàng năm và chỉ 10% trong số đó được thu hồi để tái sử dụng hoặc tái chế và là một trong 5 nước gây ô nhiễm rác thải nhựa nhiều nhất [22]. Các sản phẩm nhựa sau khi sử dụng như đồ nhựa một lần như túi nilon, chai nhựa, ống hút, hộp xốp đựng đồ ăn hay các sản phẩm nhựa khác như thau chậu, đồ chơi, bàn ghế nhựa. Theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ước tính trung bình mỗi gia đình Việt Nam hàng ngày sử dụng khoảng 1kg túi nilon một tháng, lượng chất thải nhựa và túi nilon ở Việt Nam hiện vẫn ở mức rất cao, chiếm khoảng 8-12% trong chất thải rắn sinh hoạt.
Nếu trung bình 10% số lượng chất thải nhựa và túi nilon không được tái sử dụng mà thải bỏ hoàn toàn, lượng chất thải nhựa và túi nilon thải bỏ ở Việt Nam sẽ xấp xỉ 2,5 triệu tấn/năm [11]. Thống kê chưa đầy đủ, chỉ riêng hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, trung bình mỗi ngày thải ra môi trường khoảng 80 tấn nhựa và túi nilon, con số này không ngừng tăng lên [11]. Nhựa là một hợp chất cao phân tử và khó phân hủy sẽ phải mất hàng trăm thậm chí là hàng nghìn năm để có thể phân hủy hết, các nhà khoa học cảnh báo, nếu không có sự tác động bởi nhiệt độ cao của ánh sáng mặt trời, phải mất từ 500-1.000 năm mới có thể phân hủy được 1 túi nilon. Theo báo cáo của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc năm 2018: “Mỗi năm thế giới sử dụng 500 tỷ túi nhựa và khoảng 40% nhựa được sản xuất dùng để đóng gói.
Lượng rác thải nhựa do con người thải ra đủ để phủ kín 4 lần diện tích bề mặt Trái đất, trong đó có 13 triệu tấn rác nhựa trôi nổi trên các đại dương”. Theo tính chất của từng loại nhựa có thể phân loại ra [1]: - Nhựa LDPE: bao bì đựng hàng tiêu dùng, thực phẩm, tên gọi chung là túi nilon, chai truyền dịch, xi lanh tiêm. - Nhựa HDPE: Vỏ chai nước khoáng, nước giải khát, dầu ăn.