Nghiên cứu khả năng áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn cho ngành nhựa ở Việt Nam

Khóa luận phân tích khả năng áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn cho ngành nhựa tại Việt Nam, hướng tới phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học chính quy

2020

54
3
2

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan ngành nhựa ở Việt Nam

1.2. Ngành công nghiệp nhựa ở Việt Nam

1.3. Các vấn đề môi trường do rác thải nhựa ở Việt Nam

1.4. Tổng quan về kinh tế tuần hoàn và áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong ngành nhựa trên thế giới

1.4.1. Khái niệm kinh tế tuần hoàn

1.4.2. Nội dung của kinh tế tuần hoàn

1.4.3. Nguyên tắc của kinh tế tuần hoàn

1.4.4. Lợi ích của kinh tế tuần hoàn trong phát triển bền vững

1.4.5. Kinh nghiệm quốc tế về áp dụng kinh tế tuần hoàn

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2. Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu

2.3. Phương pháp đánh giá tổng hợp

2.4. Phương pháp phỏng vấn và khảo sát thực địa

2.5. Phương pháp SWOT

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thực trạng bước đầu áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong ngành nhựa ở Việt Nam

3.2. Tổng quan về văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý chất thải nhựa ở Việt Nam

3.3. Nghiên cứu điển hình về bước đầu áp dụng kinh tế tuần hoàn của làng nghề tái chế nhựa Triều Khúc

3.4. Đánh giá khả năng áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong ngành nhựa ở Việt Nam

3.5. Thách thức

3.6. Đề xuất các giải pháp thúc đẩy áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong ngành nhựa ở Việt Nam

3.6.1. Cơ chế chính sách

3.6.2. Khoa học công nghệ

3.6.3. Giáo dục tuyên truyền nâng cao nhận thức

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Mô hình kinh tế tuần hoàn và ngành nhựa

Mô hình kinh tế tuần hoàn (KTTH) là một giải pháp hướng tới phát triển bền vững, đặc biệt trong ngành nhựa. Khác với mô hình kinh tế truyền thống, KTTH tập trung vào việc tái chế, tái sử dụng nguyên liệu, giảm thiểu chất thải nhựa và tối ưu hóa vòng đời sản phẩm. Tại Việt Nam, ngành nhựa đang đối mặt với thách thức lớn về ô nhiễm môi trường do lượng rác thải nhựa khổng lồ. Việc áp dụng KTTH không chỉ giúp giảm thiểu tác động môi trường mà còn thúc đẩy kinh tế xanh và tạo ra cơ hội phát triển mới cho ngành công nghiệp này.

1.1. Khái niệm và nguyên tắc của KTTH

KTTH là mô hình kinh tế khép kín, tập trung vào việc tái sử dụng nguyên liệu và giảm thiểu chất thải. Nguyên tắc cốt lõi bao gồm thiết kế sản phẩm bền vững, tối ưu hóa quy trình sản xuất và tăng cường tái chế. Điều này giúp giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên và hạn chế ô nhiễm môi trường.

1.2. Lợi ích của KTTH trong ngành nhựa

Áp dụng KTTH trong ngành nhựa mang lại nhiều lợi ích, bao gồm giảm thiểu chất thải nhựa, tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng, đồng thời thúc đẩy phát triển bền vững. Mô hình này cũng giúp các doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh và đáp ứng các yêu cầu về chính sách môi trường.

II. Thực trạng ngành nhựa tại Việt Nam

Ngành nhựa Việt Nam đang phát triển nhanh chóng, với tốc độ tăng trưởng trung bình 11,6% mỗi năm. Tuy nhiên, sự phát triển này đi kèm với những thách thức lớn về môi trường, đặc biệt là vấn đề chất thải nhựa. Việt Nam hiện là một trong những quốc gia có lượng rác thải nhựa lớn nhất thế giới, với khoảng 1,83 triệu tấn/năm. Việc quản lý và xử lý rác thải nhựa chưa hiệu quả đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đến hệ sinh thái và sức khỏe con người.

2.1. Cơ cấu ngành nhựa

Ngành nhựa Việt Nam được chia thành bốn mảng chính: nhựa bao bì, nhựa dân dụng, nhựa xây dựngnhựa kỹ thuật. Trong đó, nhựa bao bì chiếm tỷ trọng lớn nhất, đóng góp 35% giá trị sản xuất. Các sản phẩm nhựa được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, từ tiêu dùng đến công nghiệp.

2.2. Vấn đề môi trường

Rác thải nhựa đang trở thành vấn đề nghiêm trọng tại Việt Nam. Phần lớn rác thải nhựa không được tái chế, dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí. Việc xử lý rác thải nhựa chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp và đốt, gây ra nhiều tác động tiêu cực đến hệ sinh thái và sức khỏe con người.

III. Khả năng áp dụng KTTH tại Việt Nam

Việc áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong ngành nhựa tại Việt Nam là cần thiết để giải quyết các vấn đề môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, quá trình này đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng. Các giải pháp như tăng cường công nghệ nhựa, cải thiện chính sách môi trường và nâng cao nhận thức cộng đồng là những yếu tố then chốt để thực hiện thành công KTTH.

3.1. Thách thức

Việc áp dụng KTTH tại Việt Nam gặp nhiều thách thức, bao gồm thiếu hụt công nghệ tái chế hiện đại, hạn chế về nguồn lực tài chính và nhận thức còn thấp về lợi ích của KTTH. Ngoài ra, sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu cũng là một rào cản lớn.

3.2. Giải pháp

Để thúc đẩy KTTH, cần xây dựng các chiến lược phát triển cụ thể, bao gồm đầu tư vào công nghệ nhựa tiên tiến, hoàn thiện chính sách môi trường và tăng cường giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng. Các doanh nghiệp cũng cần chủ động tham gia vào quá trình tái chế và tái sử dụng nhựa.

IV. Tương lai của ngành nhựa tại Việt Nam

Việc áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn sẽ mở ra nhiều cơ hội cho ngành nhựa tại Việt Nam, hướng tới một tương lai ngành nhựa bền vững và thân thiện với môi trường. Các doanh nghiệp cần chủ động thay đổi mô hình sản xuất, tăng cường sử dụng nguyên liệu tái chế và đầu tư vào công nghệ tiên tiến. Đồng thời, sự hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức quốc tế sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy KTTH.

4.1. Cơ hội phát triển

KTTH không chỉ giúp giảm thiểu tác động môi trường mà còn tạo ra cơ hội kinh tế mới cho ngành nhựa. Các doanh nghiệp có thể tận dụng nguồn nguyên liệu tái chế để giảm chi phí sản xuất và tăng cường khả năng cạnh tranh.

4.2. Định hướng chiến lược

Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, ngành nhựa cần xây dựng các chiến lược phát triển dài hạn, tập trung vào việc áp dụng KTTH và tăng cường hợp tác quốc tế. Điều này sẽ giúp ngành nhựa Việt Nam hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu.

10/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan ngành nhựa ở Việt Nam Nhựa là thuật ngữ chung để chỉ một loại vật liệu dẻo tổng hợp hay bán tổng hợp được dử dụng phổ biến ở tất cả các lĩnh vực.Vật liệu nhựa là một hợp chất hữa cơ được chế tạo từ dầu mỏ và các nguyên liệu như xenlulozo, than đá hay khí tự nhiên. Nhựa bao gồm nhựa nhiệt dẻo và nhựa nhiệt rắn: - Nhựa nhiệt dẻo là nhựa có thể làm mềm, nóng chảy dưới tác dụng của nhiệt độ, khi nguội sẽ đóng rắn lại. Khi mềm có có thể ép khuôn và có hình dạng mới khi nguội, quá trình này có thể lặp lại nhiều lần mà đặc tính của nó không thay đổi.

Các loại nhựa dẻo phổ biến bao gồm PolyEthylen và dẫn xuất của chúng (HDPE, LDPE, LLDPE), PolyPropylen, PolyStyren và PonyVinyl Clorua [14]. - Nhựa nhiệt rắn là hợp chất cao phân tử có khả năng chuyển sang trạng thái không gian ba chiều dưới tác dụng của nhiệt độ hay các phản ứng hóa học nhưng sau đó không nóng chả hay hòa tan được nữa, không thể tái chế thành các sản phẩm khác như nhự nhiệt dẻo. Các loại nhựa nhiệt rắn phổ biến là nhựa Epoxy, Melamine, Phenolic, Polyurethane và Urea [14]. Nhựa nhiệt dẻo với những đặc tính hóa lý nổi trội hơn và có giá thành thấp hơn do đó chiếm lĩnh 75% trong cơ cấu sử dụng chất dẻo toàn cầu, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực.

Trong cơ cấu sử dụng nhựa nhiệt dẻo, PE và PP là nhựa được sử dụng nhiều nhất chiếm khoảng trên 60% tổng lượng nhựa nhiệt dẻo, được ứng dụng để sản xuất bao bì, màng bọc,. chiếm 15% tổng lượng nhựa nhiệt dẻo là nhựa PVC chủ yếu được sử dụng làm ống dẫn hay các sản phẩm dân dụng như giày dép,. Các loại nhựa khác chiếm khoảng 22% tổng lượng nhựa nhiệt dẻo. Vì nhiệt rắn không thể tái chế như nhựa nhiệt dẻo và đa số các sản phẩm nhựa được sản xuất bằng nhựa nhiệt dẻo do đó trong phạm vi khóa luận của mình em xin phép chỉ trình bày về nhựa nhiệt dẻo.

3 Hình 1: Tỷ trọng sử dụng chất dẻo và nhựa nhiệt dẻo [14] 1. Ngành công nghiệp nhựa ở Việt Nam Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, ngành nhựa hiện tại có khoảng hơn 3.300 doanh nghiệp đang hoạt động. Trong đó các doanh nghiệp sản xuất trong mảng nhựa bao bì chiếm tỷ trọng lớn nhất với 41% trong cơ cấu tương đương với khoảng 1. Các doanh nghiệp hoạt động trong hai mảng là nhựa xây dựng và nhựa dân dụng chiếm lần lượt 24% và 20% trong tổng số các doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam[13].

Theo khu vực địa lý, các doanh nghiệp ngành nhựa tập trung chủ yếu ở khu vực miền Nam với khoảng 54% số doanh nghiệp đang hoạt động tại khu vực này. Khu vực miền Bắc và miền Trung tập trung lần lượt 37% và 9% phân bố của các doanh nghiệp ngành nhựa[13]. Nguyên nhân các doanh nghiệp ngành nhựa tập trung chủ yếu ở khu vực miền Nam và khu vực miền Bắc là vì đây là hai khu vực trọng điểm kinh tế nơi tập trung đông dân cư cũng như các doanh nghiệp sản xuất và chế biến đồ uống, thực phẩm. Miền Bắc 37% Miền Trung 54% Miền Nam 9% Hình 2: Cơ cấu doanh nghiệp ngành nhựa theo vùng địa lý So với các ngành công nghiệp khác thì ngành công nghiệp nhựa ở nước ta vẫn còn khá mới và non trẻ tuy nhiên lại là một trong các ngành công 4 nghiệp có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh so với nền kinh tế nói chung.

Trong giai đoạn từ 2012 đến 2017, ngành nhựa Việt Nam tăng trưởng trung bình 11,6% một năm nhanh hơn so với mức tăng trưởng 3,9% của ngành nhựa thế giới và nhanh hơn so với mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,2% của Việt Nam trong cùng giai đoạn [13]. Các sản phẩm đầu ra của ngành nhựa Việt Nam được ứng dụng trong rất nhiều các lĩnh vực khác nhau từ tiêu dùng, thương mại cho đến xây dựng, lắp ráp,… và được phân chia làm bốn mảng chính là các sản phẩm nhựa bao bì, nhựa dân dụng, nhựa xây dựng và nhựa kỹ thuật. Hình 3: Cơ cấu ngành nhựa Việt Nam [13] - Nhựa bao bì: Đây là dòng sản phẩm có giá trị gia tăng thấp nhưng lại chiếm tới 35% giá trị sản xuất và tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam. Ngành hàng tiêu dùng trong nước tăng trưởng tốt nhờ nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của dân cư gia tăng là yếu tố then chốt giúp ngành nhựa bao bì đảm bảo đầu ra vững chắc.

Bao bì nhựa là một ngành giao nhau giữa hai ngành Nhựa và Bao bì. Ngành bao bì nhựa có thể được phân loại thành: + Bao bì mềm, phục vụ chủ yếu cho ngành thực phẩm + Chai lọ nhựa đóng hộp phục vụ chủ yếu cho lĩnh vực nước giải khát + Bao bì cứng: Theo báo cáo của Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), 66% giá trị xuất khẩu nhựa hàng năm của Việt Nam là nhựa bao bì. Nhựa bao bì cũng là mặt hàng nhựa xuất khẩu chủ yếu của ngành nhựa Việt Nam, các thị trường chính bao gồm Mỹ, Nhật Bản, EU. 5 - Nhựa vật liệu xây dựng: Chiếm 24% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm như ống nước, khung cửa chính, cửa sổ.

Nhờ thị trường bất động sản đang hồi phục và các hoạt động xây dựng dân dụng, hạ tầng gia tăng với nhiều dự án có quy mô lớn và vốn đầu tư cao, đặc biệt là các dự án về xây dựng nhà xưởng và cơ sở hạ tầng phục vụ công nghiệp, hạ tầng giao thông, nâng cấp đường bộ… nên thị trường tiêu thụ VLXD được kỳ vọng sẽ được mở rộng mạnh mẽ với tiềm năng cao. - Nhựa gia dụng: Chiếm khoảng 22 % giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm gia dụng như nội thất, tủ, đĩa, đồ chơi, và giầy dép. Các công ty trong nước chủ yếu tập trung sản xuất nhóm sản phẩm này, nhưng thường có biên lợi nhuận thấp, trong khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tập trung ở phân khúc sản phẩm cao cấp, có giá trị và biên lợi nhuận cao. Trong những năm gần đây, các sản phẩm nhựa gia dụng Việt Nam chiếm tới 90% thị phần nội địa và tập trung ở phân khúc bình dân.

- Nhựa công nghệ cao: Chiếm 19% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm như phụ tùng nhựa, dùng tron g lắp ráp ô-tô, xe máy, thiết bị y tế và trang thiết bị dùng trong công nghiệp composite. Theo FAO, 1,8 triệu tấn là lượng nhựa được phát hành tại Việt Nam mỗi năm. Người Việt tiêu thụ hơn 41 kg nhựa/năm. Tiêu thụ nhựa bình quân đầu người tại Việt Nam đã tăng mạnh mỗi năm từ 3,8 kg lên 41,3 kg/người trong thời gian 1990-2018.

Việt Nam ước tính sử dụng và thanh lý hơn 30 tỷ túi nilon mỗi năm. Theo báo cáo của Hiệp hội nhựa, năm 2015, Việt Nam sản xuất và tiêu thụ khoảng 5 triệu tấn nhựa nguyên liệu chủ yếu là nhập khẩu, Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu vì nguồn nguyên liệu trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu, chưa tự chủ sản xuất được PE, PP đáp ứng được 15%, PET là 30% và PVC là 50% nhu cầu trong nước [14]. Nguyên liệu nhựa trong nước sản xuất được chỉ đáp ứng được khoảng 20% tổng nhu cầu, 80% còn lại phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Việc nhập siêu nguyên liệu khiến doanh nghiệp trong nước khó chủ động do biến động giá của các nguyên liệu hóa thạch như dầu mỏ, than đá vì những nguồn nguyên liệu này chiếm tới 80% giá thành của sản phẩm nhựa [14].

Việc biến động giá hay tăng giảm khả năng cung - cầu sẽ ảnh hưởng tới các doanh nghiệp trong ngành trở ngại cho sự tăng trưởng của ngành nhựa Việt Nam. Các vấn đề môi trường do rác thải nhựa ở Việt Nam Ngành công nghiệp nhựa phát triển tất yếu sẽ gây nên tình trạng ô nhiễm rác thải nhựa. Theo Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới IUCN mỗi năm có khoảng 8 triệu tấn rác thải nhựa đổ ra biển. Rác thải nhựa trên biển có nguồn gốc chủ yếu là từ đất liền (khoảng 80%), phần còn lại là đổ thải trực tiếp ra biển.

Rác thải nhựa là vấn đề của toàn cầu, đặc biệt đối với nước có bờ biển dài như nước ta vấn đề ô nhiễm môi trường do rác thải nhựa lại càng trở nên nghiêm trọng, ảnh hưởng tới toàn bộ hệ sinh thái. Theo Greenhub Việt Nam với khoảng 30 triệu tấn rác thải được tạo ra hàng năm và chỉ 10% trong số đó được thu hồi để tái sử dụng hoặc tái chế và là một trong 5 nước gây ô nhiễm rác thải nhựa nhiều nhất [22]. Các sản phẩm nhựa sau khi sử dụng như đồ nhựa một lần như túi nilon, chai nhựa, ống hút, hộp xốp đựng đồ ăn hay các sản phẩm nhựa khác như thau chậu, đồ chơi, bàn ghế nhựa. Theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ước tính trung bình mỗi gia đình Việt Nam hàng ngày sử dụng khoảng 1kg túi nilon một tháng, lượng chất thải nhựa và túi nilon ở Việt Nam hiện vẫn ở mức rất cao, chiếm khoảng 8-12% trong chất thải rắn sinh hoạt.

Nếu trung bình 10% số lượng chất thải nhựa và túi nilon không được tái sử dụng mà thải bỏ hoàn toàn, lượng chất thải nhựa và túi nilon thải bỏ ở Việt Nam sẽ xấp xỉ 2,5 triệu tấn/năm [11]. Thống kê chưa đầy đủ, chỉ riêng hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, trung bình mỗi ngày thải ra môi trường khoảng 80 tấn nhựa và túi nilon, con số này không ngừng tăng lên [11]. Nhựa là một hợp chất cao phân tử và khó phân hủy sẽ phải mất hàng trăm thậm chí là hàng nghìn năm để có thể phân hủy hết, các nhà khoa học cảnh báo, nếu không có sự tác động bởi nhiệt độ cao của ánh sáng mặt trời, phải mất từ 500-1.000 năm mới có thể phân hủy được 1 túi nilon. Theo báo cáo của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc năm 2018: “Mỗi năm thế giới sử dụng 500 tỷ túi nhựa và khoảng 40% nhựa được sản xuất dùng để đóng gói.

Lượng rác thải nhựa do con người thải ra đủ để phủ kín 4 lần diện tích bề mặt Trái đất, trong đó có 13 triệu tấn rác nhựa trôi nổi trên các đại dương”. Theo tính chất của từng loại nhựa có thể phân loại ra [1]: - Nhựa LDPE: bao bì đựng hàng tiêu dùng, thực phẩm, tên gọi chung là túi nilon, chai truyền dịch, xi lanh tiêm. - Nhựa HDPE: Vỏ chai nước khoáng, nước giải khát, dầu ăn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khả năng áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn cho ngành nhựa tại Việt Nam là một tài liệu quan trọng, tập trung vào việc phân tích và đề xuất các giải pháp để chuyển đổi ngành nhựa theo hướng bền vững thông qua mô hình kinh tế tuần hoàn. Tài liệu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải nhựa, đồng thời đưa ra các khuyến nghị chính sách và công nghệ để thúc đẩy quá trình này. Đọc tài liệu này, bạn sẽ hiểu rõ hơn về cách thức áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong ngành nhựa, từ đó góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững tại Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ quản lý môi trường nghiên cứu mô hình phí tái chế bao bì nhựa tại thành phố Hồ Chí Minh, tài liệu này đi sâu vào việc đánh giá hiệu quả của mô hình phí tái chế bao bì nhựa. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường đánh giá tác động môi trường và hiệu quả của quá trình tái chế chất thải nhựa cung cấp cái nhìn chi tiết về tác động môi trường và lợi ích của việc tái chế nhựa. Cuối cùng, Đồ án nghiên cứu thiết kế chế tạo dây chuyền sản xuất túi vải thân thiện với môi trường là một tài liệu hữu ích để tìm hiểu về các giải pháp thay thế nhựa truyền thống. Hãy khám phá những tài liệu này để có cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề kinh tế tuần hoàn và bảo vệ môi trường.