Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu xử lý bã thải thạch cao phốtpho và ứng dụng làm phụ gia xi măng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu xử lý bã thải thạch cao phốtpho và ứng dụng làm phụ gia trong sản xuất xi măng, góp phần bảo vệ môi trường.

Chuyên ngành

Kỹ thuật hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

156
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: Công nghệ sản xuất axit phốtphoric

1.1. Công nghệ sản xuất axit phốtphoric

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Địa điểm lấy mẫu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp xác định hàm lượng P2O5 hòa tan

2.3.2. Phương pháp xác định hàm lượng P2O5 tổng số

2.3.3. Phương pháp xác định hàm ẩm

2.3.4. Phương pháp xác định hàm lượng nước liên kết

2.3.5. Phương pháp xác định hàm lượng SO3 tổng số

2.3.6. Phương pháp xác định tổng chất hữu cơ TOC

2.3.7. Phương pháp xác định hàm lượng kim loại vết trên ICP-OES

2.3.8. Phương pháp phổ tán sắc năng lượng tia X

2.3.9. Phương pháp xác định hình thái kích thước hạt nano/micromet

2.3.10. Phương pháp quy hoạch thực nghiệm

2.3.11. Phương pháp xác định độ an toàn phóng xạ

2.3.12. Phương pháp kiểm tra thử nghiệm mẫu vật liệu xây dựng

2.3.13. Phương pháp nghiên cứu khác

2.3.14. Phương pháp thực nghiệm

2.3.15. Phương pháp nghiên cứu quá trình xử lý P2O5 và tạp chất

2.3.16. Quy hoạch thực nghiệm xử lý P2O5 trong PG làm vật liệu xây dựng

2.3.17. Phương pháp thu nhận CaCO3 NPs/MPs

2.3.18. Phương pháp cacbonat hóa thạch cao phốtpho

2.3.19. Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm trên vữa xi măng

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả phân tích thành phần hóa học bã thải thạch cao

3.2. Thành phần hóa học bã thải thạch cao nhà máy DAP1 và DAP2

3.3. Các dạng phốtpho đồng kết tủa

3.4. Thành phần nguy hại trong bã thải PG

3.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình loại bỏ tạp chất với axit sunphuric

3.6. Nghiên cứu loại bỏ phốtpho

3.7. Nghiên cứu quá trình và kĩ thuật rửa bã thải thạch cao

3.8. So sánh khả năng loại bỏ oxit kim loại của các kĩ thuật rửa

3.9. Khảo sát hiệu quả loại bỏ tạp khác

3.10. Các dạng tồn tại của thạch cao

3.11. Đánh giá hoạt độ phóng xạ tự nhiên của PG

3.12. Nghiên cứu tối ưu hóa quá trình loại bỏ P2O5

3.13. Nghiên cứu thu nhận CaCO3 kích thước hạt nano/micromet

3.14. Nghiên cứu thu nhận CaCO3 NPs/MPs

3.15. Nhận diện tồn tại peak của CaCO3 trên Phổ hấp thụ UV

3.16. Nhận diện CaCO3 trên nhiễu xạ tia X

3.17. Kích thước hạt CaCO3 trên DLS

3.18. Kết quả đo SEM

3.19. Hiệu suất thu nhận CaCO3 và tiềm năng giữ CO2 của bã thải PG

3.20. Cacbonat hóa PG mới đồng thời tách tạp chất

3.21. Thành phần hóa học của PG mới trước và sau xử lý

3.22. So sánh mẫu sau xử lý cacbonat hóa/không cacbonat hóa PG mới

3.23. Các phản ứng xảy ra khi trung hòa và cacbonat hóa PG mới có mặt NaOH, CO2

3.24. Bước đầu nghiên cứu thủy hóa vữa xi măng

3.25. Thử nghiệm thạch cao sau xử lý trên vữa xi măng

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Giới thiệu về bã thải thạch cao phốtpho

Bã thải thạch cao phốtpho (PG) là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất axit phốtphoric từ quặng apatit. Sự phát sinh của PG đã tạo ra một lượng lớn chất thải, gây áp lực lên môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Tại Việt Nam, hơn 10 triệu tấn PG đang tồn đọng tại các bãi chứa, trong khi mỗi năm có khoảng 3 triệu tấn PG được thải ra từ các nhà máy phân bón. Việc xử lý và tái chế PG trở thành một nhiệm vụ cấp bách nhằm giảm thiểu ô nhiễm và tận dụng tài nguyên. PG chứa nhiều tạp chất như axit H2SO4, H3PO4 tự do, và các muối phốt phát, làm hạn chế khả năng sử dụng của nó trong sản xuất xi măng. Do đó, nghiên cứu về quy trình xử lý PG để loại bỏ tạp chất và cải thiện tính chất của nó là rất cần thiết.

1.1. Tình hình phát thải và xử lý bã thải thạch cao

Tình hình phát thải PG tại Việt Nam đang ở mức báo động. Các nhà máy sản xuất phân bón như DAP Đình Vũ và DAP Lào Cai thải ra một lượng lớn PG mỗi năm. Việc xử lý PG không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn tạo ra nguồn nguyên liệu tái chế cho ngành xây dựng. Tuy nhiên, do sự có mặt của các tạp chất, việc tái sử dụng PG trong sản xuất xi măng gặp nhiều khó khăn. Các nghiên cứu hiện tại đang tập trung vào việc phát triển các phương pháp xử lý hiệu quả để loại bỏ tạp chất, nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng cho phụ gia xi măng.

II. Quy trình xử lý bã thải thạch cao phốtpho

Quy trình xử lý bã thải thạch cao phốtpho (PG) bao gồm nhiều bước quan trọng nhằm loại bỏ tạp chất và cải thiện tính chất của PG. Đầu tiên, PG được xử lý bằng axit sunphuric để phá vỡ các liên kết của tạp chất. Sau đó, quá trình trung hòa với CaO hoặc cacbonat hóa với NaOH và CO2 được thực hiện để chuyển hóa PG thành nano/micro CaCO3. Việc thu nhận CaCO3 từ PG không chỉ giúp cải thiện tính chất cơ lý của xi măng mà còn tạo ra một sản phẩm có giá trị trong ngành xây dựng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc xử lý PG có thể đạt hiệu quả cao trong việc loại bỏ phốtpho và các tạp chất khác, từ đó nâng cao khả năng tái chế PG.

2.1. Phương pháp xử lý và loại bỏ tạp chất

Phương pháp xử lý PG chủ yếu sử dụng axit sunphuric để loại bỏ các tạp chất như phốtpho và các muối không mong muốn. Sau khi xử lý, PG cần được trung hòa để loại bỏ axit dư thừa, điều này rất quan trọng để đảm bảo không ảnh hưởng đến quá trình thủy hóa của xi măng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng các tác nhân axit có thể giúp loại bỏ hiệu quả các tạp chất, tuy nhiên cần phải kiểm soát chặt chẽ để tránh ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng của sản phẩm cuối cùng.

III. Ứng dụng bã thải thạch cao phốtpho trong sản xuất xi măng

Bã thải thạch cao phốtpho sau khi được xử lý có thể được sử dụng làm phụ gia trong sản xuất xi măng. Việc sử dụng PG không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn tạo ra một nguồn nguyên liệu tái chế có giá trị. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thêm PG vào xi măng có thể cải thiện tính chất cơ lý của sản phẩm, như độ bền nén và khả năng chống thấm. Tuy nhiên, cần phải thực hiện thêm các nghiên cứu để tối ưu hóa tỷ lệ sử dụng PG trong các công thức xi măng khác nhau, nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất.

3.1. Tính chất và hiệu quả của xi măng sử dụng PG

Xi măng được sản xuất từ PG đã qua xử lý cho thấy nhiều ưu điểm vượt trội so với xi măng truyền thống. Các thử nghiệm cho thấy rằng việc sử dụng PG có thể làm tăng cường độ nén và độ bền của xi măng. Hơn nữa, PG còn giúp cải thiện khả năng chống thấm và độ ổn định của sản phẩm. Tuy nhiên, cần phải chú ý đến hàm lượng phốtpho trong PG, vì nếu vượt quá giới hạn cho phép sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của xi măng. Do đó, việc kiểm soát chất lượng PG trước khi đưa vào sản xuất là rất quan trọng.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Công nghệ sản xuất axit phốtphoric 1. Công nghệ sản xuất axit phốtphoric Axit phốtphoric là sản phẩm chính của quá trình sản xuất giữa quặng apatit và axit sunphuric. Quá trình này được sử dụng rộng rãi để sản xuất axit phốtphoric và canxi sunphat – chủ yếu là dạng thạch cao ngậm hai nước (CaSO4.

Sơ đồ quá trình sản xuất axit phốtphoric trong quá trình sản xuất ướt theo phản ứng sau sau [8, 9]. Ca5(PO4)3F (rắn) + 5H2SO4 (lỏng) + 5xH2O (lỏng) → 5CaSO 4·xH2O (rắn) + 3H3PO4 (lỏng) + HF (lỏng) (1) Canxi sunphat là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất axit phốtphoric [8, 9] tùy thuộc vào điều kiện nhiệt độ và nồng độ P2O5 và SO42- của quá trình công nghệ sản xuất H3PO4 mà thạch cao tồn tại dạng thạch cao khan (Anhydrit-CaSO4, x=0) (AH), thạch cao ngậm nửa phân tử nước (Hemihydrat- CaSO4.5 H2O) (HH), thạch cao ngậm hai phân tử nước (Dihydrat - CaSO4.2H2O) hoặc là kết hợp của các dạng kết tinh ở một điều kiện cụ thể. Nguyên lý hóa học cơ bản trong quá trình sản xuất là quá trình phân huỷ quặng apatit với axit sunphuric tạo axit phốtphoric và bã thải thạch cao phốtpho (PG) Ca3(PO4)2 + 3H2SO4 + 2H2O = 3CaSO4.2H2O + 6H3PO4 (4) Ngoài phản ứng chính này, còn có một số phản ứng phụ diễn ra, quan trọng nhất là: CaF2 + H2SO4 = CaSO4 + 2HF (5) 4HF + SiO2 = Si F4 + 2H2O (6) 3SiF4 + 2H2O = 2H2SiF6 + SiO2 (7) CaCO3 + H2SO4 = CaSO4+ CO2 + H2O (8) Fe2O3 (hoặc Al2O3) + 2H3PO4 = 2FePO4 (hoặc 2AlPO4 ) + 3H2O (9) H2SiF6 (+ Nhiệt độ nóng + H2SO4) = SiF4 +2HF (10) Na2O (hoặc K2O) + H2Si F6 = Na2SiF6 (hoặc K2SiF6) + H2O (11) Hiệu quả thu P2O5 từ quặng cho thấy tính năng kĩ thuật của quy trình công nghệ sản xuất khi P2O5 bị mất không thu hồi được do tồn dư phốtpho trong bã thải luan an 5 thạch cao phốtpho nhiều, do không thu hồi được, do đồng kết tủa, do quặng phốt phát không phản ứng hết, do tiếp xúc giữa quặng phốt phát và axit sunphuric chưa hợp lý. Hình thức hao hụt do Phốtpho trong bã thải PG tồn tại ở dạng kết tinh trong thạch cao.

Khi thạch cao kết tinh, không giống như canxi sunphat tinh khiết, một lượng HPO42- (ion phốtphát) nhất định thay thế cho SO42- (ion sun phát) trong mạng lưới tinh thể. Dicanxi phốt phát kết tinh theo cùng canxi phốt phát và có đặc tính kết tinh gần giống nhau. Sự hao hụt Phốtpho này càng lớn khi sử dụng dung dịch có nồng độ CaO cao và nồng độ H2SO4 thấp trong phân huỷ quặng.1 mô tả quy trình công nghệ Dihydrat. Quá trình công nghệ dihydrat Quá trình hình thành bã thải thạch cao trải qua 4 giai đoạn trong quy trình ướt sản xuất H3PO4 từ quặng apatit gồm nghiền quặng tạo bùn, phản ứng phân huỷ, lọc và cô đặc H3PO4.

Lượng bã thải thạch cao phốtpho: Bã thải PG hình thành với khối lượng rất lớn, trung bình cứ 4- 5 tấn bã thảo PG thải ra/1 tấn P2O5 sản xuất. Chất thải này hiện lưu chứa trong bãi chứa và có tiềm năng sử dụng thay thế thạch cao tự nhiên. Tại Việt Nam, hai nhà máy sản xuất phân bón DAP đều sử dụng công nghệ Dihydrat sản xuất axit H3PO4 theo công nghệ ướt kèm theo lượng bã thải thạch cao lớn và hiệu suất thu hồi P2O5 không đạt và cần các biện pháp xử lý bã thải PG để sử dụng cho sản xuất vật liệu xây dựng. luan an 6 Bảng 1.

So sánh các công nghệ sản xuất axit phốphoric quá trình ướt [10] Quá Quá trình Các hệ Quá trình Quá trình Quá trình trình Dihydrat/ số Hemihydrat tái kế tinh Hemi/Dihydrat Dihydrat Hemihidrat 40% Khô, Đá Khô, 100% Khô, Khô, 100% 100 mịn hơn phốtphat 1 mm 100% 0,5 mm 1 mm Mesh DH Hiệu quả 95-97% 90-94% 98-99% 99% 98-99% bánh lọc Mất mát 0,5-1% 1-3% 0,5-1% 0,5-1% 0,5-1% khác Thu hồi 93,5- 88-93% 95-97% 98-99% 98% P2O5 96,5% P2O5 tạo 2,5-3 tấn 3-3,5 tấn 2,5-3 tấn 2,3-2,7 tấn 2,4-2,8 tấn thành Sử dụng 90-95% 70-80% H2SO4 Có 60% H2SO4 Có H2SO4 H2SO4 loãng Nhiệt độ phản ứng 7-85 85-100 85-100 65-70 90-100 (oC ) Nhiệt độ kết tinh - - 50-60 90-100 50-65 (oC) Mức độ Lưu ý quá Có thể cần dễ vận Dễ Dễ Cần kiểm soát trình lọc kết tinh axit hành SO3 thấp, Chất 1,5% SO3 cao, chất hữu cơ 1,5% SO3, lượng SO3,40-48 40-45% thấp, 35-38% 40-45% P2O5 sản phẩm % P2O5 P2O5 P2O5 Chất Chất Không tinh lượng lượng Tinh khiết Tinh khiết Tinh khiết khiết gypsum thấp luan an 7 Hai quy trình chính riêng biệt để sản xuất axit photphoric, đó là quy trình di- hydrat và quy trình hemi-hydrat. Sự kết hợp của quá trình dihydrat và hemi-hydrat cũng được sử dụng để sản xuất axit photphoric nhằm đạt được mức độ thu hồi P2O5 cao hơn. Quá trình DH vẫn phổ biến nhất bởi vì quá trình này dễ vận hành và phù hợp với nhiều loại quặng phốt phát, 80% PG tạo ra trong quá trình DH [9, 11, 12] công nghệ hemi-hydrat (HH) sản xuất H3PO4 hạn chế do điều kiện vận hành khắt khe, khó hơn, nhược điểm của quá trình DH là tạo ra Phốtpho đồng kết tủa trong CaSO4.2H2O, do đó làm mất 4-6 % P2O5 và chất lượng P2O5 sản phẩm thấp chiếm 28-32%, tạp chất trong PG cao (bảng 1. Tính chất của bã thải PG Tính chất của bã thải PG phụ thuộc bản chất loại quặng tự nhiên và công nghệ ướt, hiệu quả hoạt động của nhà máy, phương pháp xử lý và thời gian xử lý, vị trí mẫu và độ sâu của bãi chôn lấp PG [13].

PG là vật liệu dạng bột, hầu như không khả năng tạo hình, thành phần chính là CaSO4.2H2O, hàm lượng thạch cao trên thế giới cao (> 90%) [14, 15]. Do các lỗ rỗng trong PG còn dư axit phốtphoric, axit sunphuric và hydrofluoric nên đây là một dạng sản phẩm phụ có tính axit (pH < 3). PG sau băng tải lọc thường chứa hàm lượng ẩm 25-30%. Hàm lượng nước tự do thay đổi lớn theo thời gian rút nước của PG tại bãi lưu chứa và điều kiện thời tiết.

Độ tan của PG phụ thuộc vào pH, PG tan tốt trong nước muối (khoảng 4,1 g/l) [16]. Tỉ khối của PG đạt 2,27 đến 2,40 g/cm3 và tỉ trọng đổ đống là 0,9 và 1,7 g/cm3 [17]. PG có kích cỡ hạt có đường kính 0,250 - 0,045 mm ưu thế và phụ thuộc vào nguồn quặng phốt phát và điều kiện phản ứng [9]. Ảnh hiển vi điện tử thể hiện sự đồng nhất và sự sắp xếp đống lăng trụ PG, cấu trúc tinh thể hình thoi và tinh thể trực giao định hình.

Thành phần của quặng khoáng phốtpho, được mô tả trong các nghiên cứu quan trọng ảnh hưởng lớn bởi quặng apatit florua [Ca10F2(PO4)6.CaCO3], quặng sắt goethite (FeOOH) và thạch anh, với khoáng nhôm phốtphat, anata, Fe3O4, monazite và barit. Kim loại nặng và các nguyên tố vết như Cd và Ni cũng được phát hiện. Quặng phốt phát có tính phóng xạ, chủ yếu là U238 và Th232 [19, 20]. luan an 8 Theo Taha, Seals, 1992 [21] thành phần chính của PG là CaO, SO42-, SiO2, Al2O3, Fe2O3, P2O5 và F, kim loại vết (Asen, Đồng, Bari, Cd, Chì, Thủy ngân, Selen, Crom) cũng có trong một số loại PG.

PG có tổng lượng Ag, Au, Cd, Se, Sr cao và nguyên tố hiếm Y, Ln. PG của bang Florida - Mĩ có thành phần Sb và As cao hơn PG Alberta (Idaho) nhưng có nồng độ Ag, Ba, Cd và Sr thấp hơn. Mức Y, Zr, Cu, Ba và Ni của PG Nam Mĩ cao hơn PG vùng Central Florida. PG ở Tunisia có chứa Cd, Hg và Zn ở mức cao [22, 23].

Mặt khác công nghệ sản xuất chế biến ướt tạo H3PO4 theo công nghệ Dihydrat, tại hai nhà máy DAP1 và DAP2 của Việt Nam hiện làm theo công nghệ hãng Payron tạo sản phẩm chính là H3PO4 và sản phẩm phụ là CaSO4.2H2O điều kiện nhiệt độ 76oC-90oC. Trong khi đó, công nghệ sản xuất H3PO4 trên thế giới hiện đại hơn, đa phần tiến hành theo công ng hệ tạo hemihydrat, và tái kết tinh, sản phẩm tạo thành là axit H3PO4 và sản phẩm phụ là CaSO4.5 H2O ở điều kiện nhiệt độ từ 90-115oC với hiệu suất tạo H3PO4 cao hơn và hàm lượng tạp chất trong CaSO4.5 H2O là thấp hơn so với Việt Nam (bảng 1. Các tài liệu nghiên cứu trên thế giới thành phần tạp chất trong PG thấp, P dưới 2 %, silic 3-5 %, flo < 1,5 %, và hàm lượng CaSO4 trong chất thải cao trên 90 % [23, 24]. Hiện trạng phát thải PG Theo nghiên cứu của Tayibi H và cộng sự, để sản xuất một tấn axit H3PO4 thải ra 4-5 tấn PG [25].

Phát thải PG trên toàn thế giới ước tính khoảng 280-300 tấn/năm [26, 27] chủ yếu của Mĩ, Liên Xô, Trung Quốc, Châu Phi và Trung Đông.2 trình bày phát thải PG của một số nước trên thế giới [28] Bảng 1. Phát thải PG một số nước trên thế giới Quốc gia Sản lượng PG triệu tấn/năm Florida 30 Jordan 3 Morocco 15 Tunisia 10 Ukraine 10 Serbia 0,81 Syria 0,35 Toàn thế giới Ước tính 280-300 luan an 9 Tại Việt Nam, hiện có 3 nhà máy sản xuất phân bón có nguồn bã thạch cao phốtpho lên tới 5,6 triệu tấn/năm. Khối lượng PG của ngành công nghiệp phân bón tại Việt Nam hiện nay rất lớn. Riêng với DAP Đình Vũ - Hải Phòng với công suất hoạt động 330.000 tấn/năm, 150 tấn PG/giờ, sẽ thải ra môi trường khoảng 0,9 - 1,2 triệu tấn PG/năm.

Thách thức của vấn đề chất thải thạch cao phốtpho Theo nghiên cứu, hiện tại trên 85% chất thải thạch cao phốtpho thải ra môi trường mà không được xử lý. Khối lượng PG ảnh hưởng lớn đến môi trường và sức khoẻ con người. Theo nghiên cứu của Mas và cộng sự PG chất đống ở đầm muối ở Huelva (Tây Ban Nha) chứa khoảng 100 triệu tấn PG (khu vực ước tính 1200 ha với độ cao trung bình là 5 m), chất thải tại bãi chôn lấp không đảm bảo về môi trường do không lót và che phủ tốt dẫn đến có ảnh hưởng do tia phóng xạ gamma ở mức cao 5 đến 38 lần so với mức thông thường [29]. Nghiên cứu của Lysandrou và cộng sự (2007) [30], đo mức phát ra Rn222 của mẫu PG khoảng từ 0,35 đến 1,1 Bq/h, cao hơn so với độ phát xạ Radon của nền địa chất ở Cyprus, có thể là nguyên nhân làm tăng nồng độ radon và tạo ra sự tiếp xúc quá mức của con người với bức xạ [30].

Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nguồn thải PG đến môi trường đất và nước là khả năng ngấm của các yếu tố độc hại của PG và do đó gây nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm dưới bãi PG [31-33].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu xử lý bã thải thạch cao phốtpho và ứng dụng làm phụ gia xi măng" của tác giả Đặng Ngọc Phượng, dưới sự hướng dẫn của PGS. Ngô Kim Chi và GS. Trần Đại Lâm, được thực hiện tại Học viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam vào năm 2022. Bài nghiên cứu tập trung vào việc xử lý bã thải thạch cao phốtpho, một vấn đề môi trường quan trọng, và tìm kiếm ứng dụng của nó như một phụ gia trong sản xuất xi măng. Việc này không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm xây dựng, mang lại lợi ích kinh tế và môi trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến vật liệu và công nghệ hóa học, bạn có thể tham khảo các tài liệu như "Luận án tiến sĩ về cấu trúc nano vàng bạc trên silic trong nhận biết phân tử hữu cơ bằng tán xạ Raman", nơi nghiên cứu về vật liệu nano có ứng dụng trong nhận diện hóa học, hay "Luận án tiến sĩ về mô hình hóa quá trình tổng hợp lignosulfonat từ dịch đen bột giấy sulfat", nghiên cứu về quy trình hóa học trong sản xuất vật liệu từ bã thải. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến lĩnh vực kỹ thuật hóa học và có thể cung cấp thêm góc nhìn về ứng dụng của các vật liệu trong công nghiệp.