CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA MỘT DOANH NGHIỆP, ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ CHÂU PHI VÀ KINH NGHIỆM, BÀI HỌC CỦA MỘT SỐ TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG NƯỚC NGOÀI 1. Một số vấn đề chung về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của một doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của một doanh nghiệp 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Về bản chất, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chính là một quá trình di chuyển quốc tế về vốn và làm hình thành hai dòng chảy của vốn đối với từng quốc gia: Đó là dòng vốn chảy vào và dòng vốn chảy ra.
Theo đó, nếu như dòng vốn chảy vào được hình thành bởi đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại quốc gia đó thì dòng vốn chảy ra sẽ được hình thành từ đầu tư trực tiếp của quốc gia đó sang một quốc gia khác. Do vậy, ta có thể hiểu khái niệm của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo nghĩa tổng quát của đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Theo Quỹ tiền tệ IMF: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế của nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý toàn bộ doanh nghiệp” Cũng có khái niệm khác về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư được thực hiển bởi một hay nhiều tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp góp vốn bằng tiền hay công nghệ kỹ thuật hoặc các loại tài sản khác cũng có giá trị để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh theo quy định của quốc gia nhận đầu tư. Như vậy có nhiều định nghĩa, khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng có thể hiểu một cách đơn giản thì: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nói chung hay đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nói riêng là việc một cá nhân hay một tổ chức kinh tế nào đó mang phần vốn góp tài sản như tiền, máy móc, công nghệ kỹ thuật,…ra nước 6 ngoài đầu tư kinh doanh để tạo ra lợi nhuận mong muốn. Tại Việt Nam, Luật đầu tư 2014 đã sử dụng chung một khái niệm duy nhất là “Đầu tư kinh doanh” thay cho khái niệm “Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp” như trước đây theo Luật đầu tư 2005.
Theo đó “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn (đầu tư) để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được định nghĩa trong Nghị định số 83/2015/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 25/09/2015 Quy định về đầu tư ra nước ngoài như sau: “Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn; hoặc thanh toán mua một phần hoặc toàn bộ cơ sở kinh doanh; hoặc xác lập quyền sở hữu để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam; đồng thời trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó”. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Các đặc điểm của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đó là: a. Về nguồn vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được thực hiện chủ yếu từ nguồn vốn tư nhân với mục đích chủ yếu là thu được lợi nhuận cao qua việc triển khai hoạt động sản xuất ở nước ngoài.
Vốn FDI bao gồm vốn đầu tư ban đầu của nhà đầu tư nước ngoài dưới hình thức vốn điều lệ hay vốn pháp định và vốn vay của các nhà đầu tư để phục vụ cho việc triển khai các dự án cũng như vốn đầu tư được trích lại từ lợi nhuận sau thuế từ kết quả sản xuất kinh doanh. Do vậy, nước tiếp nhận đầu tư phải có những biễn pháp về tài chính phù hợp để tránh trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng chỉ đưa vào thị trường một lượng vốn nhỏ rồi sau đó vay vốn tại nước sở tại để thực hiện các dự án đầu tư hay mở rộng hoạt động kinh doanh. Điều này sẽ gây ảnh hưởng đến mục đích thu hút đầu tư nước ngoài của nước sở tại. Vốn FDI là nguồn vốn đầu tư phát triển trong dài hạn và được đầu tư trực tiếp từ bên nước ngoài nên đối với nước sở tại thì FDI chính là nguồn vốn dài hạn đóng vai trò quan trọng và rất cần thiết trong nền kinh tế.
Vốn FDI là dòng vốn quốc tế gắn với việc xây dựng các nhà máy, chi nhánh sản xuất, công trình. Do đó, thời gian thực 7 hiện vốn đầu tư dài và có tính ổn định cao tại nước tiếp nhận đầu tư. Nếu trong hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài không nắm quyền hành quản lý công ty mà chỉ đầu tư qua các công cụ như cổ phiếu hay trái phiếu và thời gian hoạt động ngắn hơn, biến động bất thường hơn thì ở hình thức đầu tư trực tiếp, các nhà đầu tư trực tiếp tham gia năm quyền quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Do vậy, vốn FDI ít chịu sự chi phối, ràng buộc của nhà nước sở tại so với các hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Chính phủ nước sở tại sẽ tạo những điều kiện thuận lợi để thu hút vốn FDI vào lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, FDI là nguồn vốn trực tiếp nhà đầu tư nước ngoài mang đến nước khác để tiến hành đầu tư. Vì thế, không giống với các nguồn vốn vay, nước nhận đầu tư không phải hoàn trả nợ cũng như nguồn vốn này sẽ không tạo ra những áp lực về gánh nặng nợ quốc gia. Các nước tiếp nhận đầu tư sẽ có thêm nguồn vốn để phát triển đất nước, đặc biệt là những nước đang phát triển.
Nguồn vốn này không phải là khoản nợ của quốc gia nên sẽ đảm bảo về an ninh tài chính cho nước tiếp nhận. Do đó, đây chính là một nguồn vốn đóng vai trò quan trọng cho việc đầu tư phát triển đất nước. Để được gọi là vốn đầu tư trực tiếp thì nhà đầu tư nước ngoài cần phải góp một tỷ lệ vốn nhất định và lượng vốn là bao nhiêu sẽ tùy thuộc vào chính sách về thu hút đầu tư của các nước và sẽ được thay đổi thay đổi theo từng giai đoạn. Về mức vốn góp Các nhà đầu tư phải đóng góp một tỷ lệ vốn nhất định theo pháp luật của nước sở tại để giành quyền điều hành và quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tỷ lệ đóng góp vốn của mỗi bên trong vốn vốn pháp định hay vốn điều lệ sẽ quy định quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên, đồng thời rủi ro và lợi nhuận cũng sẽ được phân chia cho các bên theo tỷ lệ vốn góp này. Nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức góp vốn 100%, nghĩa là họ đã đóng góp toàn bộ vốn pháp định thì doanh nghiệp đó thuộc sở hữu hoàn toàn của nhà đầu tư nước ngoài và họ cũng sẽ quản lý toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Về tỷ lệ chia lợi nhuận Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh được phân chia cho các bên 8 phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp sau khi đã từ đi các khoản khác. Nếu kinh doanh lỗ thì các bên cũng sẽ phải chịu trách nhiệm tương ứng với tỷ lệ vốn góp đó.
Về chuyển giao công nghệ Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ thường kèm theo sự chuyển giao về công nghệ cho đất nước nhận đầu tư. FDI đóng một vai trò rất quan trọng đối với việc chuyển giao công nghệ. Việc chuyển giao này sẽ được thực hiện bằng cách chuyển giao những công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào nước sở tại và tiếp tục được nghiên cứu ứng dụng, cải tiến và phát triển cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước tiếp nhận. Các doanh nghiệp FDI sẽ tạo ra những mối quan hệ liên kết và cung cấp những dịch vụ công nghệ từ các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong nước.
Và từ đó, các doanh nghiệp tại đất nước nhận đầu tư sẽ có cơ hội tiến hành các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) thông qua việc học cách thiết kế, tiếp thu những công nghệ nguồn rồi sau đó cải tiến để phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước và biến chúng thành công nghệ của chính đất nước mình. Do đó, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp, nước sở tại sẽ có thể tiếp nhận được những công nghệ và kỹ thuật tiến bộ từ nước ngoài, đồng thời cũng học hỏi được nhiều kinh nghiệm về quản lý từ nhà đầu tư nước ngoài. Vai trò của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài a. Đối với quốc gia đi đầu tư Thứ nhất, đầu tư ra nước ngoài khẳng định sự lớn mạnh của các doanh nghiệp của một quốc gia nói riêng và nền kinh tế của quốc gia đó nói chung, giúp củng cố vai trò chính trị và vị thế kinh tế của quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Thứ hai, đầu tư ra nước ngoài tác động trực tiếp giúp mở rộng thị trường nước ngoài, giúp nền kinh tế của nước chủ đầu tư thâm nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc; tạo điều kiện thuận lợi cho những hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển đa dạng và phong phú. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, các nhà đầu tư sẽ tránh được những hàng rào bảo hộ của nước tiếp nhận đầu tư khi xuất khẩu sản phẩm là máy móc thiết bị sanh nước tiếp nhận để tiến hành góp vốn và xuất khẩu sản phẩm từ nước tiếp nhận sang các nước khác (do chính sách ưu đãi của các nước tiếp nhận đầu 9 tư nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chuyển giao công nghệ và sản xuất hàng xuất khẩu của các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài), từ đó mà giảm được giá thành của sản phẩm, đồng thời tăng sức cạnh tranh đối với những hàng nhập khẩu từ các nước.