Chương 1: Cơ sở lý luận về dau tư phát triển tại các doanh nghiệp Vận tải. Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển tại Công ty Cổ phần Vinafco giai đoạn 2002 - 2006. Chương 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển tại Công ty Cổ phần Vinafco. CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VẬN TẢI 1.
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ 1. Khái lệm, vai trò và các hình thức đầu tư Khái niệm đầu tư, đầu tư phát triển. Theo quan điểm của chủ đầu tư: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh, để từ đó thu được số tiền lớn hơn số đã bỏ ra thông qua lợi nhuận trong thời gian tương lai. Theo quan điểm của xã hội (quốc gia): Đầu tư là hoạt động bỏ vốn để từ đó thu được các kết quả và hiệu quả kinh tế - xã hội vì mục tiêu phát triển quốc gia.
Theo luật đầu tư (29-11-2005): Đầu tư là việc nhà đầu tư vỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản, tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp. Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội. Các hình thức đầu tư Trong thực tế, có rất nhiều hình thái biểu hiện cụ thể của đầu tư. Tùy từng góc độ tiếp cận với những tiêu thức khác nhau người ta có thể phân chia hoạt động đầu tư khác nhau.
Một trong những tiêu thức thường được sử dụng là tiêu thức quan hệ quản lý của chủ đầu tư. Theo tiêu thức này, đầu tư được chia thành đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư. Đó là việc các chính phủ thông qua các chương trình tài trợ không hoàn lại hoặc có hoàn lại với lãi suất thấp cho các chính phủ của các nước khác vay để phát triển kinh tế xã hội; là việc các nhà đầu tư thực hiện hành vi 4 mua các cổ phiếu hoặc trái phiếu trên thị trường chứng khoán thứ cấp.
Trong trường hợp này, nhà đầu tư có thể được hưởng các lợi ích vật chất (như cổ tức, tiền lãi trái phiếu), lợi ích phi vật chất (quyền biểu quyết, quyền ưu tiên mua) nhưng không được tham gia quản lý trực tiếp tài sản mà mình bỏ vốn dau tư. Đối với đầu tư trực tiếp: người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. Đâu tư trực tiếp lại được phân chia thành đầu tư dịch chuyển và đầu tư phát triển. Đầu tư dịch chuyển là một hình thức đầu tư trực tiếp trong đó việc vỏ vốn là nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị của tài sản.
Thực chất trong đầu tư dịch chuyển không có sự gia tăng giá trị tài sản. Chẳng hạn như nhà đầu tư mua một số lượng cổ phiếu với mức khống chể để có thể tham gia hội đồng quản trị một công ty, các trường hợp thôn tính, sáp nhập doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Trong các hình thức đầu tư trên thì đầu tư phát triển có vai trò quan trọng nhất, là tiền đề, là cơ sở cho các hoạt động đầu tư khác. Các hình thức đầu tư gián tiếp, dịch chuyển không thể tồn tại và vận động nếu không có đầu tư phát triển.
Đầu tư phát triển là phương thức đầu tư trực tiếp. Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội. Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ. Hình thức đầu tư này đóng vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển nền kinh tế mỗi quốc gia.
Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển Đầu tư phát triển đóng vai trò quan trọng và là một bộ phận không thể tách rời đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Đầu tư phát triển thường đòi hỏi một lượng vốn dau tư lớn, thời gian đầu tư kéo dài và kết quả đầu tư phát huy tác dụng lâu dài trong cả thời kỳ vận hành. Do vậy, kết quả đầu tu và hiệu quả dau tư không thể tách rời hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ các nhân tố như quyết định đầu tư; doanh thu, chi phí vận hành của dự án đầu tư, thời gian vận hành dự án dau tư, giá trị còn lại của dự án đầu tư; thuế suất, lãi suất, tỷ giá hối đoái liên quan tới dự án đầu tư. Bên cạnh đó, bản thân các nhân tố tác động tới kết quả và hiệu quả đầu tư nêu trên lại bị rất nhiều yếu tố khách quan hoặc chủ quan khác tác động.
Các yếu tố khách quan Yếu tốkinh tế, văn hoá xã hội: Các yếu tố kinh tế xã hội có liên quan mật thiết tới tình hình sản xuất kinh doanh, có ảnh hưởng lớn tới kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển của doanh nghiệp. Các yếu tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp cũng như có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp vận tải. Thông thường, các yếu tố kinh tế, văn hoá xã hội tác động tới thị trường hoạt động của các doanh nghiệp vận tải. Tác động tích cực của các yếu tố kinh tế, văn hoá xã hội sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vận tải mở rộng thi trường, có điều kiện để tăng doanh thu, tăng lợi nhuận và là tiền dé để doanh nghiệp đưa ra các quyết định nhằm thực hiện các công cuộc đầu tư mới.
Từ đó có ảnh hưởng tích cực tới kết quả đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển của doanh nghiệp. Có thể kể ra các yếu tố kinh tế chủ yếu có tác động lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp vận tải là: Môi trường hoạt động kinh doanh, môi trường đầu tư quốc tế và trong nước, mức tăng trưởng chung của kinh tế thế giới và kinh tế trong nước, sự tăng trưởng của thị trường du lịch quốc tế và trong nước, sự phát triển của các loại hình vận chuyển đường bộ, đường thuỷ. Các yếu tố văn hoá xã hội tác động tới quy mô thị trường của các doanh nghiệp vận tải nói chung và ngành vận tải nói riêng được thể hiện ở quy mô dân số, thu nhập bình quân đầu người, phân bổ dân số giữa các vùng miền, cơ cấu dân số theo độ tuổi, tập quán văn hoá của dân tộc, mức sống. Bên cạnh đó cũng phải kể đến yếu tố dịch bệnh có ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu như SARS, dịch cúm gia cầm.đã va sẽ xuất hiện.
Day là nguy cơ tiềm ẩn làm suy giảm mạnh thị trường vận tải. Yếu tố chính sách, pháp luật Tình hình an ninh chính trị thế giới diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng tới tâm lý khách hàng, như các cuộc xung đột giữa các nước láng giéng, các cuộc chiến tranh tại vùng Vịnh, các cuộc khủng bó lứon nhỏ diễn ra ở ầu hết các khu vực trên thế giới. Nói chung các yếu tố này tác động tiêu cực tới hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành vận tải nội địa và quốc tế ở các khía cạnh: giảm dung lượng thị trường vận tải quốc tế, giảm doanh thu của ngành, làm tăng giá cả nhiên liệu đầu vào dẫn tới giảm lợi nhuận. và từ đó làm suy giảm nghiêm trọng hiệu quả đầu tư.
Ngược lại, tình hình an ninh, chính trị ổn định của một số nước trong thời gian qua mang lại sức hút cho các nhà đầu tư, tạo cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp vận tải. Ví dụ, khi xẩy ra các cuộc khủng bố tại Indonesia và Thái Lan, Việt Nam là điểm đén an toàn của các nhà đầu tư, góp phần tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp vận tải Việt Nam, góp phần tăng doanh thu, lợi nhuận và mang lại hiệu quả đầu tư cao. Hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước tạo cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển nhưng cũng tạo ra những thách thức và tác động lớn tới hiệu quả đầu tư của một doanh nghiệp. Ảnh hưởng tích cực của các chính sách vĩ mô về khuyến khích, ưu đãi đầu tư, chính sách tài chính tiền tệ, chính sách thuế xuất, nhập khẩu sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp tiết kiệm chi phí đầu tư, hạn chế những thất thoát trong quá trình sử dụng vốn, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, từ đó nâng cao được hiệu quả đầu tư phát triển của doanh nghiệp.
Một số yếu tố khách quan khác Một số yếu tố khách quan khác có ảnh hưởng tới kết quả và hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp vận tải như sự phát triển của khoa học công nghệ, sự biến động bất lợi của giá nghuyên, nhiên liệu đầu vào, giá thuê tau container, giá thuê nhân công. Yếu tố công nghệ sẽ tại điều kiện cho doanh nghiệp vận tải có điều kiện sử dụng các phượng tiện vận tải hiện đại, có khả năng vận chuyển xa hơn, chở được nhiều hàng hoá hơn, suất doanh thu và lợi nhuận trên chuyến cao hơn và hiệu quả đầu tư được nâng cao. Trong khi đó, sự tăng giá của nhiên liệu, giá thuê tau định hạn, thuỷ thủ đoàn làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận và ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả đầu tư. Các yếu tố chủ quan: Chiến lược phát triển, chủ trương đầu tư và kế hoạch đầu tư phát triển của doanh nghiệp.
Chiến lược phát triển, chủ trương đầu tư đúng và các kế hoạch đầu tư hợp lý là điều kiện tiên quyết để đảm bảo hiệu quả đầu tư của một doanh nghiệp. Chiến lược phát triển của doanh nghiệp là kế hoạch tổng thể xác định mục tiêu cơ bản, dài hạn của doanh nghiệp, các chính sách và giải pháp sử dụng các nguồn lực để thực hiện mục tiêu phù hợp với môi trường kinh doanh.