Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Các vấn đề lý luận chung về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển tại Công ty Cổ phần Nghe Nhìn Toàn Cầu giai đoạn 2007 – 2012 Chương 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển tại Công ty Cổ phần Nghe Nhìn Toàn Cầu 5 CHƯƠNG 2 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG DOANH NGHIỆP TRUYỀN HÌNH 2. Bản chất hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp truyền hình 2. Khái niệm Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất,nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kiến trúc hạ tầng,mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sản này nhăm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế - xã hội, tạo ra việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội. Đầu tư phát triển làm gian tăng tài sản cho nền kinh tế mà không phải là sự chu chuyển giữa đơn vị này sang đơn vị kia của nền kinh tế.
Với khái niệm trên, có thể hiểu đầu tư phát triển là một phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó, quá trình đầu tư làm gia tăng giá trị và năng lực sản xuất, năng lực phục vụ của tài sản. Thông qua hành vi đầu tư này, năng lực sản xuất và năng lực phục vụ của nền kinh tế cũng gia tăng. Đầu tư phát triển đòi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực. Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển là nguồn vốn.
Nhưng theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc, thiết bị, tài nguyên. Như vậy khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển cần tính đúng tính đủ các nguồn lực tham gia. Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ vốn thực hiện nhằm đạt những mục tiêu nhất định. Trên quan điểm phân công lao động xã hội, có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ.
Trên góc độ tính chất và mục đích đầu tư, đối tượng đầu tư chia thành hai nhóm 6 chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình phi lợi nhuận. Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư chia thành: loại được khuyến khích đầu tư, loại không được khuyến khích đầu tư và loại bị cấm đầu tư. Từ góc độ tài sản, đối tượng đầu tư chia thành: những tài sản vật chất (tài sản thực) và tài sản vô hình. Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và tài sản vô hình.
Các kết quả dạt được của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội. Hiệu quả của đầu tư phát triển phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế xã hội thu được và chi phí chi ra để đạt kết quả đó. Kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển cần được xem xét trên cả phương diện chủ đầu tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa các loại lợi ích. Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư.
Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội. Đầu tư cảu doanh nghiệp nhằm tối thiểu chi phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực. Đầu tư phát triển thường được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định. Xác định rõ chủ đầu tư có ý nghĩa qaun trọng trong quá trình quản lý đầu tư nói chung và vốn đầu tư nói riêng.
Vốn đầu tư: Căn cứ theo nguồn hình thành và mục tiêu sử dụng:Vốn đầu tư được hiểu là tiền tích lũy của xã hội của các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ là tiền tiết kiệm của dân cư và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở sẵn có và tạo ra tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội. Nguồn vốn đầu tư: Là thuật ngữ dung để chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của xã hội. Nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp truyền hình Hoạt động đầu tư phát triên là một quá trình, diễn ra trong thời kỳ dài và tồn tại vấn đề độ trễ thời gian.
Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp giữa thời gian đầu tư với thời gian vận hành các kết quả đầu tư. Đầu tư hiện tại nhưng kết quả đầu tư thường thu được trong tương lai. Đặc điểm này của đầu tư cần được quán triệt khi đánh giá kết quả, chi phí và hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển. Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm sau đây: - Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn: Vốn đầu tư lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.
Quy mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo và huy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm, trọng điểm - Thời kỳ đầu tư kéo dài: Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Do vốn lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản. - Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công trìnhđầu tư phát triển có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm.
- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên, do đó, trong quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng. Do đó, cần phải có chủ trương đàu tư và quyết định đầu tư đúng, và quan trọng hơn hết là cần lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý. - Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao: do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài nên mức độ rủi ro 8 của hoạt động đầu tư phát triển thường cao. Rủi ro đầu tư thường đến từ nhiều nguyên nhân, trong đó bao gồm nhà đầu tư quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu, giá nguyên vật liệu tăng,….
Do đó, cần nhận diện rủi ro đầu tư, đánh giá mức độ rủi ro một cách đúng đắn và xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro. Phân loại hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp truyền hình Doanh nghiệp truyền hình cũng giống như các doanh nghiệp khác. Có nhiều cách phân loại hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp như phân loại theo lĩnh vực phát huy tác dụng, phân loại theo quá trình hình thành và thực hiện đầu tư, tuy nhiên chủ yếu vẫn sử dụng là hình thức phân loại theo nội dung. Phân loại theo nội dung: đầu tư phát triển bao gồm đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư hàng tồn trữ, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, đầu tư phát triển khoa học và công nghệ, đầu tư cho hoạt động marketing và đầu tư các tài sản vô hình khác.
- Đầu tư xây dựng cơ bản: là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cố định của doanh nghiệp. Bao gồm các hoạt động chính như: xây lắp và mua sắm máy móc thiết bị. Hoạt động này đòi hỏi vốn lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển của đơn vị. - Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ: hàng tồn trữ trong doanh nghiệp là toàn bộ nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm và sản phẩm hoàn thành được tồn trữ trong doanh nghiệp.
Tùy theo loại hình doanh nghiệp, quy mô mà cơ cấu các mặt hàng tồn trữ cũng khác nhau. Tỷ trọng đầu tư vào hàng tồn trữ trong tổng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp thương mại thường cao hơn các loại hình doanh nghiệp khác. Do vậy, xác định quy mô đầu tư hàng tồn trữ tối ưu cho doanh nghiệp là vô cùng cần thiết. - Đầu tư phát triển nguồn nhân lực: nguồn nhân lực có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế và doanh nghiệp.
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm đầu tư cho hoạt động đào tạo (chính quy, không chính quy, ngắn hạn, bồi dưỡng nghiệp vụ,…), đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe, y tế,… 9 - Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ: phát triển sản phẩm mới và các lĩnh vực hoạt động mới cần đòi hỏi đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu, triển khai, ứng dụng công nghệ. Hoạt động này đòi hỏi vốn lớn và độ rủi ro cao. - Đầu tư cho hoạt động marketing: bao gồm đầu tư cho quảng cáo, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu,…. Vai trò hoạt động đầu tư phát triển đối với doanh nghiệp truyền hình Đầu tư là một trong những nội dung không thể thiếu đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp lấy việc kinh doanh dịch vụ truyền hình làm mũi nhọn.