Chương 1: Lý luận chung về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp chứng khoán Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt giai đoạn 2016 — 2021. Chương 3: Một số giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển tại công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt giai đoạn 2022-2026 Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu của một chuyên đề tốt nghiệp, do còn nhiều hạn chế về kiến thức, tài liệu thống kê được, quá trình thực tiễn còn chưa nhiều nên đề tài không thể tránh được một số sai sót nhất định. Em rất mong muốn nhận được những đóng góp quý báu của thầy cô dé chuyên đề khóa luận tốt nghiệp của em hoàn thiện hơn nữa trong thời gian tới. Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Thầy giáo hướng dẫn của em là Thay Đào Văn Thanh đã hỗ trợ và giúp đỡ em rất nhiều dé hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này và các anh chị đồng nghiệp tại công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt đã giúp đỡ em khi thực tập tại công ty.
LÝ LUẬN CHUNG VE DAU TƯ PHÁT TRIEN TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. ĐẦU TƯ PHÁT TRIEN TẠI CONG TY CHUNG KHOAN 1. Khái quát chung về công ty chứng khoán 1. Khái niệm công ty chứng khoán Đề hình thành và phát triển TTCK hiệu quả, một yếu tố không thé thiếu được là sự tham gia của các thành phần kinh tế trên TTCK.
Mục tiêu của việc hình thành thị trường chứng khoán là tạo ra một kênh huy động vốn dài hạn cho việc phát triển nền kinh tế trên thị trường thứ cấp và tạo ra tính thanh khoản cho các loại chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Chính vì vậy, để thúc đây thị trường chứng khoán hướng đến trật tự, công băng, minh bạch, hiệu quả cần phải có sự ra đời và hoạt động của các công ty chứng khoán. Các công ty chứng khoán này sẽ đóng vai trò là tổ chức tài chính trung gian, trong việc tạo ra kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế thông qua kênh tài chính gián tiếp. Đây chính là kênh dẫn vốn của những thể chế tài chính bậc cao, bên cạnh các kênh huy động truyền thống thông qua tín dụng thương mại, ngân hàng, các tổ chức tín dụng.
Là một chủ thé kinh doanh, CTCK có những điểm tương đồng với các tổ chức và hoạt động của các loại hình công ty khác, đồng thời cũng có những điểm khác biệt đặc trưng về hoạt động nghiệp vụ và hoạt động tài chính. CTCK là một tô chức có tư cách pháp nhân và hoạt động với sản phẩm là kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động như: môi giới chứng khoán, tư vấn tài chính và tư vẫn đầu tư chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành và lưu ký chứng khoán. Nói cách khác, CTCK là một tô chức trung gian tài chính thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán, là don vi có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc lập. CTCK chính là cầu nối giữa cơ quan quản lý với nhà đầu tư và tô chức phát hành; giữa tổ chức phát hành, niêm yết với nhà đầu tư.
Đặc điểm công ty chứng khoán Hiện nay trên thế giới có 2 loại mô hình hoạt động chính của công ty chứng khoán đó là: - Công ty chuyên về mảng kinh doanh chứng khoán: Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty toàn quyền độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán; các ngân hàng không tham gia trực tiếp kinh doanh chứng khoán. Ưu điểm của loại mô hình này là hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngân hàng. Tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển vì tính chuyên môn hóa cao hơn. Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước như Mỹ, Nhật, Canada.
- Công ty đa năng kinh doanh tiền tệ và chứng khoán: Theo mô hình này, các NHTM hoạt động với tư cách là chủ thể chính kinh doanh và hoạt động trên linh vực chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ.Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể đa dạng hóa và kết hợp với nhiều lĩnh vực kinh doanh, do đó giảm bớt được rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung, khả năng chịu đựng tốt các biến động của thị trường chứng khoán. Ngoài ra, ngân hàng còn tận dụng được thế mạnh về vốn dé kinh doanh chứng khoán; khách hàng ngoài có thé dé dang mua/ bán chứng khoán thi còn có thể sử dụng được nhiều dịch vụ đa dạng và lâu năm của ngân hàng. Tuy nhiên, mô hình này cũng có một số hạn chế như không phát triển được thị trường cô phiếu do tính chất bảo thủ của các ngân hàng, hoạt động tín dụng truyền thống vẫn là chính. Mặt khác, theo mô hình này, nếu TTCK có biến động thì sẽ ảnh hưởng mạnh đến các hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, dễ dẫn đến các cuộc khủng hoảng tài chính.
Do đó mà trên thế giới nhiều nước đã không sử dụng mô hình này mà chuyền sang chuyên doanh chứng khoán, hiện tại thì chỉ còn Đức là vẫn duy trì mô hình này. Ở Việt Nam, do quy mô các NHT còn rất là nhỏ bé, vốn dài hạn rất thấp, hoạt động của các NHTM Việt Nam chủ yếu trong lĩnh vực tín dụng thương mại ngắn han, trong khi đó hoạt động của thị trường chứng khoán thuộc lĩnh vực vốn dài hạn. Khả năng khắc phục những điểm yếu này ở Việt Nam thì còn cần rất nhiều thời gian. Do đó, để cho các ngân hàng được đảm bảo an toàn về vốn, Nghị định 144/CP về chứng khoán và TTCK quy định các NHTM muốn kinh doanh chứng khoán phải tách ra một phần von tự có của mình dé thành lập và tạo ra một CTCK chuyên doanh trực thuộc, hạch toán độc lập với ngân hàng.
Cơ cấu tô chức của CTCK phụ thuộc vào loại hình nghiệp vụ công ty đó thực hiện và quy mô hoạt động kinh doanh của nó. Ngoài ra còn phải đảm bảo được sự tách biệt giữa các hoạt động như tự doanh chứng khoán với hoạt động môi giới và quản lý hiệu quả danh mục đầu tư. Nhìn chung thì cơ cấu tổ chức của Công ty chứng khoán như sau: Co cấu tổ chức của CTCK là hệ thống các phòng ban chức năng được chia làm 2 khối tương ứng với 2 khối công việc: Khối 1 (Khôi kinh doanh): Do ít nhất một phó giám đốc trực tiếp điều hành, phụ trách và thực hiện giao dịch mua bán và kinh doanh chứng khoán như: tự doanh chứng khoán, môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành, tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư. Đây là khối mang lại nhiều doanh thu cho CTCK.
Đây là khối có tiếp xúc trực tiếp với khách hàng bởi vì ngoài hoạt động tự doanh của công ty, khối này còn mang lại thu nhập cho công ty bằng cách đáp ứng các nhu câu của khách hàng và tạo ra các sản phâm phù hợp với nhu câu đó. Khối 2 (Khối hành chính): Thường cũng do một phó giám đốc phụ trách, thực hiện các công việc yêm trợ cho khối 1 như hành chính, tổ chức, kế toán, IT,phap z chê. LỆ Khối này đóng vai trò quan trọng, bảo đảm thực hiện đầy đủ, trọn vẹn các nghiệp vụ kinh doanh đã được thực hiện của Khối kinh doanh. Vai trò của công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là một tác nhân quan trọng trong nên kinh tế thông qua việc giúp nhu cầu vốn của các chủ thê tham gia trong nền kinh tế đến được với nhau qua việc kết nối cung vốn và cầu vốn trên thị trường phát hành và tạo thanh khoản cho các loại chứng khoán trên thị trường giao dich.
Công ty chứng khoán đóng các vai trò chủ yếu sau đây: a. Vai trò huy động von Các ngân hàng, công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư. đều là những tô chức trung gian tài chính với vai trò huy động vốn thông qua các kênh dẫn vốn gián tiếp và trực tiếp. Mọi kênh dẫn vốn này có những ưu nhược điểm khác nhau, bổ sung cho nhau đáp ứng mọi nhu cầu về vốn (như quy mô vốn, thời hạn, tín dụng, tài sản thé chấp, vai trò giám sát của ngân hang.) của các chủ thé trong nền kinh tế.
Đối với kênh dẫn vốn trực tiếp từ ngân hàng, tô chức tín dụng thường đáp ứng nhu cầu vay vốn và khả năng trả nợ trong ngắn hạn, thì thị trường chứng khoán là kênh giúp doanh nghiệp duy động vốn trung và dài hạn. Công ty chứng khoán đảm nhận vai trò này thông qua hoạt động tư vấn niêm yết, tư vẫn phát hành, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tự doanh. Vai trò cung cấp một cơ chê giả cả Thị trường thứ cấp (thị trường giao dịch) cung cấp cho nhà đầu tư cơ chế xác định giá cả thông qua quan hệ cung cau về các loại chứng khoán, từ đó tạo ra tính thanh khoản và tính linh hoạt trong việc chuyền đôi, cơ cấu các khoản mục đầu tu cho người đầu tư. Các sở giao dịch yết giá và khớp lệnh trên các bảng giao dịch điện tử, trên các bản tin thị trường, và qua các phương tiện truyền thông khác.
Các công ty chứng khoán thực hiện vai trò này thông qua hoạt động môi giới và tự doanh. Các công ty chứng khoán cũng có vai trò quan trọng trong việc tạo lập thị trường, can thiệp và hỗ trợ thanh khoản đối với các loại chứng khoán mới phát hành theo hợp đồng bảo lãnh. Tùy theo quy định từng nước, các công ty chứng khoán với vai trò tạo lập thị trường phải mua vào một lượng nhất định khi giá giảm và bán ra một lượng nhất định khi giá tăng. Thị trường chứng khoán Việt Nam đã hoạt động hơn 10 năm, song vẫn là thị trường non trẻ và vai trò của các nhà tạo lập vẫn khá mờ nhạt.
Vai tro cung cáp một cơ chế chuyên ra tiên mặt Tính chuyên ra tiền mặt luôn là mong muốn của nhà đầu tư khi tiến hành mua cô phiếu. Công ty chứng khoán cung cấp chức năng nay nhằm tạo thuận lợi cho nhà đầu tư và giúp nhà đầu giảm thiểu rủi ro đặc biệt là khi cỗ phiếu mất thanh khoản va khó có thé (không thé) chuyền đổi thành tiền mặt. Vai trò thực hiện các tư vấn đấu tư Công ty chứng khoán thực hiện vai trò này thông qua việc cung cấp cho nhà đầu tư tin tức về thị trường, báo cáo nghiên cứu và phân tích thông qua các kênh khác nhau (website, handout, hội nghị, hội thảo, trò chuyện, trao déi.