Chương 1: Tổng quan nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lí luận về Đầu tư phát triển tại trong doanh nghiệp dịch vụ khai thác cảng hàng không. Chương 3: Thực trạng đầu tư phát triển tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài giai đoạn 2015 – 2019. Chương 4: Một số giải pháp nhằm tăng cường đầu tư phát triển tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài đến năm 2025.
Trong đó, tại chƣơng 1, tác giả phân tích về tính cấp thiết của đề tài, tổng quan nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu,phương pháp nghiên cứu,ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Trong đó, để đáp ứng nhu cầu phát triển cũng như thực hiện nhiệm vụ chính trị, Cảng HKQT Nội Bài phải thường xuyên đầu tư, đổi mới hệ thống nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, phục vụ hành khách trong ngắn hạn; đầu tư xây dựng mở rộng các nhà ga trong trung và dài hạn. Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Đầu tư phát triển tại Cảng HKQT Nội Bài giai đoạn 2015-2025” nhằm đưa ra góc nhìn cận cảnh về hoạt động đầu tư tại đơn vị này. Tuy nhiên, dù đã có nhiều đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hoạt động đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, nhằm phân tích các hoạt động đầu tư trong các doanh nghiẹp trong từng thời kỳ, nhưng chưa có nghiên cứu hoàn thiện hoạt động đầu tư phát triển tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài sau đây là một số đánh giá về các đề tài nghiên cứu có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài: Luận văn "Hoạt động đầu tư phát triển tại Công ty Cổ phần Orient Star” năm 2009 đã nghiên cứu về hoạt độngđầu tư phát triển tại công ty vào lĩnh vực điện năng.
Luận văn "Hoạt động đầu tư phát triển tại công ty Cổ phần Sông Đà 12: Thực trang và giải pháp" của tác giả Nguyễn Thế Hiệp, năm 2007 đã nghiên cứu ii về đầu tư phát triển tại công ty thuộc các lĩnh vực là xây lắp, vận tải, gia công cơkhí, sản xuất công nghiệp và kinh doanh. Đề tài "Hoạt động đầu tư phát triển tại Tổng công ty xi măng Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Hồng Thắm - K42. Bên cạnh các đề tài nghiên cứu về các hoạt động đầu tư phát triển tại các doanh nghiệp nói trên, tác giả cũng đã tham khảo một số đề tài nghiên cứu được thực hiện có liên quan đến các hoạt động tại Cảng HKQT Nội Bài, ví dụ như: đề tài “Quản lý Logistic tại Cảng HKQT Nội Bài” năm 2017 của tác giả Nguyễn Văn Công hay đề tài “Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại sân bay quốc tế Nội Bài” năm 2012 của tác giả Nguyễn Việt Hà. Hệ thống cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư phát triển trong đó trọng tâm phân tích những lý thuyết về hoạt động đầu tư tại doanh nghiệp dịch vụ cảng hàng không, các vai trò của đầu tư phát triển và nguồn vốn thực hiện đầu tư phát triển tại doanh nghiệp dịch vụ cảng hàng không.Nghiên cứu thực tế, đánh giá thực trạng; phân tích các nguyên nhân, tồn tại hoạt động đầu tư phát triển tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài trong giai đoạn 2015-2019.Đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường hoạt động đầu tư phát triển tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài trong giai đoạn 2015-2025.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động đầu tư phát triển tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài. Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại Cảng HKQT Nội Bài. Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng hoạt động đầu tư phát triển tại Cảng HKQT Nội Bài trong giai đoạn 2015-2019. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động đầu tư phát triển tại Cảng đến năm 2025.
Phương pháp nghiên cứu là phương pháp thống kê và phương pháp phân tích so sánh. Ý nghĩa khoa học: Luận văn vận dụng các kiến thức về quản lý kinh tế, kinh tế phát triển nhằm phân tích đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp đầu tư phát triển hiệu quả cho Cảng HKQT Nội Bài.Ý nghĩa thực tiễn: Những giải pháp được áp dụng vào thực tiễn sẽ từng bước phát triển hoạt động kinh doanh của Cảng HKQT Nội Bài để có cơ hội phát triển quy mô, nâng cao chất lượng phục vụ hành khách, nâng tầm hình ảnh đất nước trong mắt bạn bè trong khu vực và quốc tế. iii Tới chƣơng 2, tác giả sẽ nêu ra khái niệmđầu tư phát triển tại doanh nghiệp dịch vụ khai thác cảng hàng không. Trong đó, nêu ra khái niệm về ngành dịch vụ, khái niệm về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp dịch vụ khai thác cảng hàng không và vai trò của đầu tư phát triển tại doanh nghiệp dịch vụ khai thác cảng hàng không.
Trong đó, đối với các khách hàng doanh nghiệp (các hãng hàng không và các doanh nghiệp phi hàng không), doanh nghiệp dịch vụ khai thác cảng hàng không cũng cần tăng cường đầu tư để nâng cao chất lượng dịch vụ mà đơn vị cung cấp (cho thuê mặt bằng, cho thuê quảng cáo, bán hàng .) để đáp ứng các nhu cầu làm việc, khai thác hạ tầng tại cảng hàng không của các doanh nghiệp này. Mặt khác, đối với doanh nghiệp dịch vụ khai thác cảng hàng không, đầu tư phát triển (xây dựng nhà ga hàng khách, xây dựng sân đỗ oto, đầu tư trang thiết bị hiện đại giúp tăng năng suất, phục vụ được nhiều chuyến bay.) sẽ trực tiếp giúp doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận. Bên cạnh đó, đầu tư phát triển cũng giúp doanh nghiệp không bị tụt lại khi so sánh với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của ngành hàng không (quy mô hành khách, hãng hàng không, các doanh nghiệp phụ trợ. Bên cạnh đó, với các khách hàng là hành khách đi máy bay, chất lượng sản phẩm dịch vụ như đã nói ở trên là điều ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm của khách hàng khi sử dụng các dịch vụ tại cảng hàng không.
Điều này đòi hỏi doanh nghiệp dịch vụ khai thác cảng hàng không phải chú trọng đầu tư phát triển nguồn nhân lực không chỉ có kinh nghiệm trong chuyên môn khai thác cảng hàng không, mà còn phải đào tạo trong một số lĩnh vực khác để phục vụ hàng khách (kỹ năng giao tiếp, ứng xử; tập huấn về vệ sinh nhà ga, giám sát các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bán hàng tại cảng hàng không, vv. Và, đối với doanh nghiệp dịch vụ khai thác cảng hàng không, áp dụng khoa học – công nghệ giúp đơn vị cung cấp đến khách hàng các dịch vụ chính xác hơn hơn, nhanh, thuận tiện hơn (Ví dụ như: thu phí sân đỗ oto không dừng, phân loại hành lý, soi chiếu an ninh nhanh hơn, vv. Từ cơ sở đó, doanh nghiệp có thể nâng cao năng lực trong sản xuất, phục vụ được nhiều hành khách, nhiều chuyến bay hơn. Các nguồn vốn đầu tư tại doanh nghiệp dịch vụ khai thác Cảng hàng không thường nằm trong các dạng sau:Vốn chủ sở hữu(Vốn góp ban đầu, vốn nhà nước, iv vốn từ lợi nhuận không chia, cổ phiếu, quỹ doanh nghiệp như quỹ đầu tư phát triển, quỹ khẩu hao.); Vốn vay nợ (Trái phiếu công ty, vốn vay từ các ngân hàng, quỹ tín dụng trong và ngoài nước, vay tín dụng thuê mua, vốn ODA.), các nguồn vốn khác tùy theo hoạt động của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp dịch vụ khai thác Cảng hàng không thường tập trung đầu tư TSCĐ (bao gồm đầu tư xây dựng cơ bản và đầu tư mua sắm trang thiết bị), hàng tồn trữ, đầu tư nghiên cứu đầu tư Khoa học – công nghệ, đầu tư phát triển nguồn nhân lực vàđầu tư cho quảng cáo tiếp thị. Tiếp đó, luận văn sẽ đề cập đến công tác quản lý đầu tư phát triển trong doanh nghiệp dịch vụ khai thác cảng hàng không. Thông thường với doanh nghiệp dịch vụ khai thác cảng hàng không, công tác lập kế hoạch đầu tư được thực hiện vào quý 4 hàng năm. Đối với các hạng mục có quy mô vốn nhỏ, việc lập kế hoạch được lập từ dưới lên trên, hay được hiểu là các đơn vị sản xuất trực tiếp đề xuất kế hoạch đầu tư của đơn vị mình.
Căn cứ vào đề xuất đó, qua nhiều bước thẩm định, lãnh đạo doanh nghiệp sẽ đánh giá mức độ cần thiết đầu tư và quy mô vốn cụ thể. Đối với các dự án lớn, doanh nghiệp sẽ thực hiện việc lập kế hoạch theo hình thức từ trên xuống. Lãnh đạo doanh nghiệp sẽ đưa ra chiến lược, kế hoạch, mục tiêu và yêu cầu nhân viên thực hiện. Quá trình lập dự án đầu tư thường được tiến hành qua 03 cấp độ nghiên cứu đối với các dự án: có mức đầu tư lớn, các giải pháp kỹ thuật phức tạp, có thời gian thu hồi vốn dài, có nhiều yếu tố bất định tác động.
Đối với các dự án có quy mô nhỏ, quá trình nghiên cứu có thể gom lại làm một bước. Thẩm định dự án đầu tư là việc doanh nghiệp dịch vụ khai thác cảng hàng không xem xét đánh giá một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện và hiệu quả của dự án để từ đó quyết định đầu tư hoặc tài trợ vốn cho dự án. Như đã nhắc tới ở các mục trên, khi doanh nghiệp dịch vụ cảng hàng không thực hiện các dự ánđầu tư phát triển, đơn vị cần phải tuân thủ theo các quy định pháp luật, cụ thể: Luật đầu tư, luật đấu thầu để lựa chọn nhà thầu. Trên thực tế, các dự án của doanh nghiệp dịch vụ khai thác cảng hàng không sử dụng tất cả các hình thức và phương thức lựa chọn nhà thầu đã được luật đấu thầu quy định.
v Mặt khác, một số nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển của doanh nghiệp dịch vụ khai thác cảng hàng không bao gồm các nhân tố khách quan: môi trường Pháp lý (các luật và văn bản dưới luật), môi trường kinh tế (ảnh hưởng đến sức mua của khách hàng, đến khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp); môi trường khoa học công nghệ (cải thiện các yếu tố bên trong: môi trường làm việc, thay đổi văn hóa doanh nghiệp, tiết kiệm chi phí); khách hàng (nhân tố quyết định đến lợi nhuận của doanh nghiệp). Bên cạnh đó, các nhân tố chủ quan bao gồm: mục tiêu phát triển của doanh nghiệp (công tác lập kế hoạch, định hướng mục tiêu cho dài hạn); lực lượng lao động (con người vẫn là yếu tố trung tâm chủ chốt); Cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp (những giá trị cơ sở được sử dụng cho quá trình cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp).