Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương 2: Một số vấn đề lý luận về ĐTPT bằng nguồn vốn NSNN lĩnh vực nông nghiệp Chương 3: Thực trạng ĐTPT bằng nguồn vốn NSNN lĩnh vực nông nghiệp tại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006-2014 Chương 4: Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường ĐTPT nông nghiệp từ nguồn vốn NSNN tại tỉnh Nghệ An đến năm 2020 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀO LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP 2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của lĩnh vực nông nghiệp đối với sự phát triển nền kinh tế 2.1 Khái niệm ngành nông nghiệp Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm trồng trọt và chăn nuôi nhưng hiểu theo nghĩa rộng thì nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, còn bao gồm cả lâm nghiệp và thuỷ sản.2 Đặc điểm của ngành nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không có như: - Sản xuất nông nghiệp tiến hành trên một địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Ở đâu có đất đai và lao động thì ở đó có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp.
Song ở mỗi quốc gia lại có điều kiện đất đai, thời tiết, khí hậu khác nhau nên sản xuất nông nghiệp cũng khác nhau. - Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả cho các ngành sản xuất, nhưng nội 7 dung kinh tế của nó lại rất khác nhau. Trong công nghiệp và các ngành kinh tế khác, đất đai chỉ là nền móng để xây dựng các công xưởng, trụ sở phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh.
Trái lại, trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế được và nó là loại tư liệu sản xuất đặc biệt vì nó hạn chế về mặt diện tích, cố định về mặt vị trí và sức sản xuất của nó không có giới hạn. Chính vì vậy, cần phải tích cực mở rộng diện tích đất nông nghiệp bằng khai khoáng, tăng vụ. Đẩy mạnh đầu tư chiều sâu, thâm canh sản xuất – coi thâm canh là con đường chủ yếu phát triển sản xuất nông nghiệp - Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống- cây trồng và vật nuôi. Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo quy luật sinh thái nhất định.
Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về khí hậu, thời tiết đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng. - Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao. Để giảm bớt tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp cần lưu ý các vấn đề: Thực hiện chuyên môn hoá sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp; tạo ra các giống cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn để có thể làm nhiệm vụ trong năm; mở mang các ngành nghề, các hoạt động sản xuất kinh doanh khác trong nông thôn để thu hút lao động; bố trí cơ cấu cây trồng, con vật nuôi hợp lý để sử dụng tối đa lực lượng lao động và sử dụng có hiệu quả các loại vật tư kỹ thuật. Vai trò của ngànhnông nghiệp đối với nền kinh tế Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết các nước.
Vai trò này được thể hiện trên các mặt: Một là, cung ứng lương thực và nhu yếu phẩm cho nền kinh tế. Nông nghiệp là một ngành xuất hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Phạm vi hoạt động của nông nghiệp cũng bao phủ hầu hết các châu lục của hành tinh chúng ta. Do phân bố tài nguyên và trình độ phát triển khác nhau nên vai trò của nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia có thể 8 không giống nhau.
Tuy nhiên, vai trò quan trọng và dễ thấy nhất của nông nghiệp đó là cung ứng trực tiếp lương thực và các nhu yếu phẩm cho nền kinh tế. Mà lương thực, thực phẩm thường được đánh giá là một loại hàng hoá thiết yếu bởi phần lớn thu nhập của người lao động được chi cho lương thực và thực phẩm. Giá cả của lương thực và thực phẩm có ảnh hưởng lớn đến tiền lương thực tế của người lao động. Tăng giá lương thực có thể sẽ là một yếu tố cơ bản gây ra lạm phát tại các nước có thu nhập thấp.
Vì vậy, việc phát triển ngành nông nghiệp để đáp ứng thoả đáng nhu cầu của nền kinh tế sẽ là đóng góp có ý nghĩa hết sức thiết thực cho phát triển kinh tế nói chung. Hai là, cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Để đáp ứng nhu cầu phát triển trong thời đại ngày nay, các quốc gia không thể không công nghiệp hoá nền kinh tế nước mình. Khi thực hiện công nghiệp hoá và phát triển kinh tế, nông nghiệp thực sự là một hậu phương vững chắc cung ứng nguyên vật liệu, các đầu vào trực tiếp cho phát triển các ngành công nghiệp đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến. Không những thế, để phát triển nông nghiệp và nông thôn thì các ngành tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống cũng có ý nghĩa quan trọng trong tạo công ăn việc làm và thu nhập cho dân cư.
Trong đó, nông nghiệp cũng là ngành cung ứng trực tiếp, có hiệu quả nguyên liệu cho các ngành này. Đứng trên góc độ toàn cầu, nông nghiệp không những là ngành cung ứng trực tiếp nguyên vật liệu cho các ngành sản xuất trong nước mà nông nghiệp còn góp phần cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến tại các nước phát triển. Theo đánh giá của các nhà kinh tế, trong cơ cấu xuất khẩu của nhiều nước kém phát triển thì xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế (trong đó chủ yếu là nông sản và khoáng Ba là, thị trường lớn tiêu thụ sản phẩm của cả nông nghiệp và công nghiệp Khi thu nhập trong khu vực nông nghiệp tăng lên sẽ xuất hiện tiềm năng mở rộng nhu cầu về hàng hoá tiêu dùng và nhu cầu về đầu vào cho sản xuất nông nghiệp. Mặc dù nông nghiệp cần tương đối ít đầu vào là sản phẩm của công nghiệp nhưng nhu cầu tiêu dùng được tạo ra từ việc tăng năng suất trong sản xuất nông 9 nghiệp sẽ tạo ra một mối liên hệ thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu của khu vực phi nông nghiệp.
Mối quan hệ này được thực hiện do việc tăng sản lượng nông nghiệp sẽ dẫn đến tăng thu nhập tại khu vực phi nông nghiệp. Đóng góp của nông nghiệp đến việc mở rộng nhu cầu thị trường được thực hiện qua ba con đường : - Tăng thu nhập trong khu vực nông nghiệp sẽ làm tăng nhu cầu về các sản phẩm công nghiệp được sản xuất trong nước. - Đầu tư vào cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn một mặt giúp quá trình vận chuyển nông sản từ nông thôn đến thành thị và cho xuất khẩu, mặt khác tăng cường đưa các sản phẩm công nghiệp đến khu vực nông thôn. - Để khai thác thị truờng tiềm năng tại các khu vực nông thôn, ngành công nghiệp cũng phải khuyến khích sản xuất các sản phẩm theo nhu cầu khu vực nông nghiệp và nông thôn.
Bốn là, nông nghiệp góp phần cung cấp ngoại tệ cho nền kinh tế Các nước đang phát triển đều có nhu cầu rất lớn về ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, vật tư, thiết bị, nguyên liệu mà chưa tự sản xuất được trong nước. Một phần nhu cầu ngoại tệ đó có thể được đáp ứng thông qua hoạt động xuất khẩu nông sản. Những nước có lợi thế so sánh tuyệt đối về các mặt hàng nông sản sẽ đem trao đổi lấy những mặt hàng ở nước khác mà nước mình không có lợi thế. Do đó mà nông sản được coi là nguồn hàng hoá để phát triển ngành ngoại thương ở giai đoạn đầu.
Việc “ trao đổi” đó đã đem lại nguồn ngoại tệ cho nền kinh tế của các nước. Ngoài ra, trong lịch sử phát triển của một số nước cho thấy vốn được tích luỹ từ nông nghiệp lại tạo ra hàng hoá xuất khẩu và từ đó lại đem lại nguồn thu ngoại tệ. Như vậy nông nghiệp cũng là ngành cung cấp ngoại tệ quan trọng cho nền kinh tế của các quốc gia đặc biệt là đối với những nước có lợi thế về sản xuất nông nghiệp.2 Đầu tư phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh 2.Khái niệm ĐTPT nông nghiệp Có thể khẳng định rằng, tất cả các ngành các lĩnh vực nếu muốn tăng trưởng và phát triển thì đều cần phải đầu tư. Nông nghiệp cũng là ngành không nằm ngoài qui luật này.
Chính đầu tư là nhân tố quyết định những biến đổi vượt bậc của ngành nông nghiệp. Đầu tư là đòn bẩy, là động lực cho sự phát triển. Đầu tư phát triển nông nghiệp thuộc nhóm đối tượng đầu tư theo ngành do đó nó cũng là bộ phận cơ bản của đầu tư. Đầu tư phát triển nông nghiệp được hiểu là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (chuồng trại, các trung tâm sản xuất giống, máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất nông nghiệp: máy gặt, máy kéo…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng trong chăn nuôi, trồng trọt, nghiên cứu ra các loại giống đem lại năng suất cao…), gia tăng năng lực sản xuất nông nghiệp, tạo thêm việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và vì mục tiêu phát triển của ngành trong nền kinh tế.
Nguồn lực đầu tư trong nông nghiệp bao gồm tiền vốn, cây giống, con giống, đất đai, lao động, máy móc thiết bị sử dụng cho sản xuất nông nghiệp. Vì vậy khi tính hiệu quả đầu tư trong nông nghiệp cần phải tính đầy đủ các nguồn lực tham gia.