Chương 1 - Phân tích Tổng quan tình hình nghiên Tìm ra khoảng trống và khẳng - Tổng hợp cứu có liên quan đến luận án định sự cần thiết nghiên cứu vấn đề của luận án. Chương 2 - Phân tích Lý luận về PTBV về kinh tế Nội hàm PTBV về kinh tế - Tổng hợp - Phân tích Đầu tư PTBV về kinh tế Khái niệm, nội dung phân tích - Tổng hợp đầu tư PTBV về kinh tế - Phân tích Các nhân tố ảnh hưởng đến Chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng - Tổng hợp hoạt động đầu tư PTBV về kinh tế trên địa bàn địa phương - Phân tích Tác động của đầu tư đến Chỉ ra các tác động và chỉ tiêu - Tổng hợp PTBV về kinh tế đo lường - So sánh Chương 3 - Thống kê Thực trạng đầu tư PTBV về Chỉ ra những điểm hợp lý hay - Phân tích kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc bất hợp lý trong hoạt động đầu - Tổng hợp Ninh giai đoạn 2006- 2013 tư PTBV về kinh tế của tỉnh. - Thống kê Tác động của đầu tư đến Lượng hoá thành các chỉ tiêu - Mô hình hồi thực hiện các nội dung cụ thể quy tương quan PTBV về kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh - Phân tích Đánh giá thực trạng đầu tư Chỉ ra những thành tựu cũng - Tổng hợp PTBV về kinh tế trên địa như hạn chế và nguyên nhân. - So sánh bàn tỉnh Bắc Ninh Chương 4 - Phân tích Quan điểm và định hướng Xây dựng quan điểm và định - Tổng hợp đầu tư PTBV về kinh tế trên hướng đầu tư hợp lý địa bàn tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 - Phân tích Giải pháp tăng cường đầu tư Các giải pháp và kiến nghị - Tổng hợp PTBV về kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 25 với môi trường, sản xuất nguyên vật liệu thay thế, nâng cao phúc lợi xã hội và giải quyết tốt các vấn đề xã hội.
Như vậy sẽ tạo điều kiện để thực hiện PTBV về môi trường cũng như xã hội. Có thể khái niệm về PTBV về kinh tế như sau: PTBV về kinh tế là một trong các nội dung của PTBV, trong đó đảm bảo sự lâu bền của tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hợp lý, nâng cao hiệu quả tăng trưởng.2 Nội hàm phát triển bền vững về kinh tế Theo như khái niệm ở trên, PTBV về kinh tế là sự biến đổi về quy mô, cơ cấu và chất lượng của nền kinh tế. Như vậy, nội dung cơ bản của PTBV về kinh tế phải bao gồm: đạt được tăng trưởng tương đối cao và ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý, sử dụng nguồn lực tiết kiệm và hiệu quả: - Nội dung thứ nhất: Tăng trưởng cao hợp lý và ổn định: tăng trưởng kinh tế thường được đo bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP). Để đảm bảo tính bền vững, tăng trưởng phải đáp ứng tối thiểu ba yêu cầu cơ bản: + Tốc độ tăng trưởng tương đối cao: Tốc độ tăng trưởng tương đối cao không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng do dân số, quy mô tiêu dùng tăng, nhu cầu sản xuất tăng.
mà còn giúp các quốc gia đang phát triển bắt kịp các quốc gia khác. + Tăng trưởng phải đảm bảo ổn định, lâu bền: Tăng trưởng ổn định, lâu dài vừa thể hiện năng lực sản xuất ổn định, khả năng đảm bảo nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế và khả năng chống chịu với những biến động bên trong và bên ngoài nền kinh tế. Đối với các quốc gia đang phát triển thì tốc độ tăng trưởng GDP khoảng trên 7%/năm và kéo dài liên tục nhiều năm (1- 2 thập kỷ hoặc lâu hơn) có thể xem như đạt những tiêu chuẩn đầu tiên về PTBV về kinh tế. Nếu xét trong khoảng thời gian một thập kỷ thì kỷ lục về tốc độ tăng trưởng kinh tế lâu dài thuộc về các nước Đông Á.
Nhật Bản, Trung Quốc và Singapore đều đã từng đạt được một hoặc hai thập kỷ tăng trưởng trung bình trên 10%/năm. Hàn Quốc, Đài Loan và Malaysia cũng giữ được ở mức xấp xỉ 10%. 26 + Tăng trưởng phải đảm bảo chất lượng cao: tăng trưởng cần dựa vào yếu tố chất lượng, chiều sâu là chính; tăng trưởng gắn với việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả. Điều này thể hiện qua cấu trúc tăng trưởng của nền kinh tế.
Cụ thể: Nếu đứng trên góc độ cấu trúc tăng trưởng theo đầu vào thì yếu tố khoa học công nghệ, năng suất lao động… phải là động lực chính của tăng trưởng thay vì hai yếu tố truyền thống là vốn và lao động. Nếu đứng trên góc độ cấu trúc tăng trưởng theo ngành, chất lượng tăng trưởng phải thể hiện ở tỷ trọng sự đóng góp ngày càng cao của hai nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ trong kết quả tăng trưởng kinh tế. Hay xem xét về đóng góp tăng trưởng của các khu vực kinh tế thì khu vực tư nhân phải là khu vực phát triển mạnh mẽ, đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng chung (bởi đây là khu vực hoạt động hiệu quả và đáp ứng tốt nhất nhu cầu thị trường). - Nội dung thứ hai: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ.
Cơ cấu kinh tế đó phải đảm bảo huy động và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực trong và ngoài nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập với nền kinh tế thế giới. - Nội dung thứ ba: phát triển kinh tế gắn với sử dụng nguồn lực hiệu quả hay phải đảm bảo hiệu quả tăng trưởng. Điều này thể hiện thông qua việc sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, nâng cao năng suất lao động. Đồng thời, tăng trưởng và phát triển kinh tế không chỉ dựa chủ yếu vào việc khai thác tài nguyên, xuất khẩu nguyên, nhiên vật liệu và sản phẩm sơ chế, mà cần gắn với quá trình giảm tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu, giảm chi phí trung gian, tăng tỷ trọng các yếu tố phi vật chất trong giá thành sản phẩm, tăng giá trị gia tăng trong sản phẩm.
Ngoài ra phát triển kinh tế cần gắn với bảo vệ, duy trì và cải thiện môi trường sinh thái.2 Đầu tư phát triển bền vững về kinh tế 2.1 Khái niệm về đầu tư phát triển và đầu tư phát triển bền vững về kinh tế 2.1 Khái niệm về đầu tư Cho đến nay, có khá nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư do đứng ở các góc độ khác nhau với các cách tiếp cận khác nhau. 27 Chẳng hạn theo nghĩa rộng, trên quan điểm vĩ mô cho rằng: đầu tư có nghĩa là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở hiện tại để đạt được giá trị (có thể không chắc chắn) trong tương lai. Giá trị ở hiện tại có thể hiểu là tiêu dùng, còn giá trị tương lai hiểu là năng lực sản xuất có thể làm tăng sản lượng quốc gia. Hoặc cụ thể hơn theo các khía cạnh cụ thể, thì đầu tư có thể hiểu: Nếu quan điểm thiên về tài sản: đầu tư chính là quá trình bỏ vốn để tạo ra tiềm lực sản xuất kinh doanh dưới hình thức các tài sản kinh doanh, đó cũng là quá trình quản trị tài sản để sinh lợi.
Thiên về khía cạnh tài chính: đầu tư là một chuỗi hành động chi của chủ đầu tư và ngược lại chủ đầu tư sẽ nhận được một chuỗi hành động thu để hoàn vốn và sinh lời Thiên về tiến bộ khoa học kỹ thuật: đầu tư là quá trình thay đổi phương thức sản xuất thông qua việc đổi mới và hiện đại hoá phương tiện sản xuất để thay thế lao động thủ công. Như vậy, có thể thấy rằng mặc dù tiếp cận ở các góc độ khác nhau, có mục tiêu khác nhau và phát biểu cụ thể không hoàn toàn giống nhau nhưng nội hàm của các khái niệm đầu tư đều thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp hành vi, hoặc quá trình sử dụng các nguồn lực (vật chất, phi vật chất) nhằm đáp ứng mục tiêu hoặc kết quả xác định. Quá trình sử dụng nguồn lực cũng không làm mất đi giá trị mà chỉ làm thay đổi hình thái thể hiện giá trị của nguồn lực. Tuy nhiên khái niệm trên chưa thể hiện được chi tiết bản chất của đầu tư.
Theo tác giả: đầu tư quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm đem lại các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Như vậy, đầu tư chính là quá trình sử dụng các nguồn lực thông qua việc thực hiện các hoạt động để tạo ra các kết quả ( gia tăng tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực). Các kết quả thu được là điều kiện để thực hiện một hoặc một tập hợp các mục tiêu mà chủ đầu tư đã xác định.1 Khái niệm về đầu tư phát triển Trong quá trình thực hiện các hoạt động đầu tư, không phải hoạt động đầu tư nào cũng trực tiếp tạo ra hoặc duy trì những tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn 28 nhân lực cho nền kinh tế, làm gia tăng năng lực sản xuất kinh doanh, dịch vụ cho nền kinh tế. Chẳng hạn như hoạt động gửi tiền tiết kiệm, hoạt động này thực chất chỉ là việc chuyển giao quyền sử dụng tiền từ người gửi tiền sang quỹ tiết kiệm.
Giá trị tăng thêm về tài sản tài chính của chủ đầu tư chính là lãi suất phải trả của quỹ tiết kiệm. Hoạt động gửi tiền tiết kiệm không trực tiếp mà chỉ gián tiếp làm gia tăng tài sản cho nền kinh tế. Bởi vậy, hoạt động đầu tư mà trực tiếp tạo ra hoặc duy trì những tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực cho nền kinh tế, làm gia tăng năng lực sản xuất kinh doanh, dịch vụ cho nền kinh tế được gọi là đầu tư phát triển. Xét trên góc độ nền kinh tế, đầu tư phát triển phải làm gia tăng tài sản cho nền kinh tế chứ không phải là hiện tượng chu chuyển tài sản giữa các đơn vị.
Như vậy, Đầu tư phát triển là một phương thức đầu tư trực tiếp. Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tạo việc làm và vì mục tiêu phát triển Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư.Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội.