CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về cạnh tranh. Khái niệm cạnh tranh Đề cập tới cạnh tranh trong điều kiện nền kinh tế TBCN, K. Mark đã đưa ra khái niệm: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch”.
Như vậy, khi nghiên cứu cạnh tranh trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, Mark đã coi cạnh tranh là cuộc giành giật các lợi thế để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Tuy nhiên, cũng trong nền kinh tế TBCN, cuốn sách “Từ điển kinh doanh” (xuất bản năm 1992, Anh) lại đưa ra khái niệm: “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình” để đề cập tới sự cạnh tranh ở thị trường các yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp. Cạnh tranh, hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, bản chất cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh.
(Michael Porter, 1996) Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp. Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành…. Vì vậy, ngày nay hầu hết các nước đều thừa nhận và coi cạnh tranh không chỉ là môi trường mà nó còn là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy khái niệm cạnh tranh nói chung là: “ sự phấn đấu vươn lên, không ngừng để giành lấy vị trí hàng SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thủy 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Lê Nữ Minh Phương đầu trong một lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất và hiệu quả cao nhất. Các loại hình cạnh tranh Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, người ta phân chia cạnh tranh thành các loại hình khác nhau: * Căn cứ theo phạm vi nền kinh tế cạnh tranh được chia làm 2 loại: Cạnh tranh giữa các ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu được tỷ suất lợi nhuận cao. Cuộc cạnh tranh nhằm thu được tỷ suất cao giữa các ngành khác nhau đã được Mac phân tích rõ trong quá trình phân chia lợi nhuận giữa các nhà tư bản bỏ vốn đầu tư vào các ngành khác nhau của nền kinh tế và chính sự cạnh tranh này dẫn tới sự di chuyển vốn đầu tư từ các ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn, di chuyển vốn này dần hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành với nhau, điều này có nghĩa là các nhà đầu tư đầu tư vào các ngành khác nhau với số vốn bằng nhau thì chỉ thu được lợi nhuận như nhau. Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hóa.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến sự hình thành giá cả thị trường. Trong cuộc cạnh tranh này các doanh nghiệp thôn tính lẫn nhau, các doanh nghiệp lớn thâu tóm các doanh nghiệp nhỏ bằng hình thức: sát nhập, mua lại. Những doanh nghiệp chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này thì càng mạnh hơn, những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp sản xuất kinh doanh, thậm chí phá sản, xóa sổ khỏi thị trường. Kết quả của hình thức cạnh tranh này là đến nay thế giới đã hình thành nên những tập đoàn kinh tế mạnh xuyên quốc gia thâu tóm toàn bộ ngành kinh tế trên toàn cầu trong lĩnh vực: điện tử, viễn thông, truyền thông… * Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trường, người ta chia ra: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh trên thị trường có nhiều người mua và người bán độc lập với nhau.
Tất cả các đơn vị hàng hóa trao đổi được coi là giống nhau. Những người SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thủy 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương mua và người bán đều có hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến việc trao đổi, không có gì cản trở việc ra nhập và rút khỏi thị trường. Cạnh tranh không hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn sản phẩm không đồng nhất với nhau.
Người bán có thể ấn định giá linh hoạt theo khu vực bán sản phẩm, tùy theo khách hàng cụ thể và mức độ lợi nhuận mong muốn. Cạnh tranh độc quyền Là trường hợp trên thị trường có một số lượng người bán nhất định, họ có thể tự định ra giá cả đối với hàng hóa dịch vụ. * Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường người ta phân chia cạnh tranh ra làm 3 loại: Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt. Bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh nào cũng đều muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất có thể, những người mua thì ngược lại đều muốn mua được sản phẩm chất lượng với giá thấp nhất có thể.
Cạnh tranh giữa người bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất. Đây là cuộc cạnh tranh quyết định sự sống còn của mỗi doanh nghiệp. Tất cả các doanh nghiệp đều muốn giành lợi thế cạnh tranh. Để có thể đứng vững và phát triển các doanh nghiệp phải sử dụng mọi biện pháp khác nhau để tạo cho mình có được lợi thế hơn đối thủ cạnh tranh.
Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Là cuộc cạnh tranh theo quy luật cung cầu. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh giữa người mua trở nên quyết liệt, giá cả hàng hóa dịch vụ sẽ được đẩy lên cao và nhà sản xuất sẽ được lợi. Vai trò của cạnh tranh. Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, cạnh tranh luôn diễn ra liên tục và được hiểu như cuộc chạy đua không ngừng giữa các đối thủ.
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang từng bước khẳng định những ưu thế của mình, môi trường cạnh tranh ngày càng hoàn chỉnh hơn đặt ra cho các doanh nghiệp những cơ hội và thách thức. Doanh nghiệp nào hiểu biết đối thủ, biết thoả mãn tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thủy 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương khách hàng so với đối thủ cạnh tranh, biết giành thế chủ động với người cung cấp các nguồn hàng và tận dụng được lợi thế cạnh tranh doanh nghiệp đó sẽ tồn tại, ngược lại doanh nghiệp không có tiềm lực cạnh tranh hoặc không “nuôi dưỡng” tiềm lực cạnh tranh tất yếu sẽ thất bại. Vì thế các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh, đón trước cạnh tranh và sẵn sàng sử dụng các công cụ cạnh tranh hữu hiệu của mình.
Điều này nhận thấy rõ nhất ở vai trò của cạnh tranh. - Cạnh tranh cho phép sử dụng các nguồn tài nguyên một cách tối ưu. - Khuyến khích áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật. - Thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng.
- Thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. - Hơn nữa cạnh tranh còn làm cho giá cả hàng hoá, dịch vụ giảm xuống nhưng chất lượng lại được nâng cao, kích thích sức mua, làm tăng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Những yếu tố tạo nên sức cạnh tranh của công ty * Môi trường vĩ mô Nhân tố kinh tế. Đây là nhân tố ảnh hưởng rất to lớn với doanh nghiệp và là nhân tố quan trọng nhất trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, Một nền kinh tế tăng trưởng sẽ tạo đà cho doanh nghiệp phát triển, nhu cầu dân cư sẽ tăng lên đồng nghĩa với một tương lai sáng sủa, điều này cũng có nghĩa là tốc độ tích luỹ vốn đầu tư trong nền kinh tế cũng tăng lên, mức độ hấp dẫn đầu tư cũng sẽ tăng lên cao, sự cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt.
Thị trường được mở rộng đây chính là cơ hội tốt cho những doanh nghiệp biết tận dụng thời cơ, biết tự hoàn thiện mình, không ngừng vươn lên chiếm lĩnh thị trường. Nhưng nó cũng chính là thách thức đối với những doanh nghiệp không có mục tiêu rõ ràng, không có chiến lược hợp lý. Chạy đua không khoan nhượng đối với tất cả các doanh nghiệp dù là doanh nghiệp nước ngoài cũng như doanh nghiệp ở trong nước dù là doanh nghiệp đó đang hoạt động ở thị trường nội địa hay thị trường nước ngoài. Và ngược lại khi nền kinh tế bị suy thoái, bất ổn định , tâm lý người dân hoang mang, sức mua của người dân giảm SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thủy 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Lê Nữ Minh Phương sút , các doanh nghiệp phải giảm sản lượng, phải tìm mọi cách để giữ khách hàng, lợi nhuận doanh số cũng sẽ giảm theo trong lúc đó sự cạnh tranh trên thị trường lại càng trở nên khốc liệt hơn. Các yếu tố của nhân tố kinh tế như tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ lạm phát tỷ giá hối đoái. cũng tác động đến khả năng tài chính của doanh nghiệp. Nhân tố chính trị và pháp luật.
Chính trị và pháp luật có tác dụng rất lớn đến sự phát triển của bất cứ doanh nghiệp nào, nhất là đối với những doanh nghiệp kinh doanh quốc tế. Chính trị và pháp luật là nền tảng cho sự phát triển kinh tế cũng như là cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở bất cứ thị trường nào dù là trong nước hay nước ngoài. Không có sự ổn định về chính trị thì sẽ không có một nền kinh tế ổn định, phát triển thực sự lâu dài và lành mạnh. Luật pháp tác động, điều chỉnh trực tiếp đến hoạt động của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Mỗi thị trường đều có hệ thống pháp luật riêng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.