CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO KHU KINH TẾ 1. Cơ sở lý luận về thu hút vốn đầu tư vào khu kinh tế: 1. Lý luận cơ bản về thu hút vốn đầu tư: 1. Khái niệm đầu tư: Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ của ngành, cơ quan quản lý và xã hội nói riêng.Nguyễn Thị Thúy Hằng, 2020) 1.
Phân loại đầu tư: Theo chức năng quản lý vốn đầu tư: - Đầu tư trực tiếp: là phương thức đầu tư trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia quản lý vốn đã bỏ ra. Người bỏ vốn và người quản lý sử dụng vốn là một chủ thể. - Đầu tư gián tiếp: là phương thức đầu tư mà chủ đầu tư bỏ vốn vào nhưng không trực tiếp tham gia quản lý vốn đã bỏ ra. Trong đầu tư gián tiếp người bỏ vốn và người quản lý sử dụng vốn không phải là một chủ thể.
- Cho vay (tín dụng): là hình thức dưới dạng cho vay kiếm lời qua lãi suất tiền cho vay. Theo nguồn vốn: - Đầu tư trong nước: là việc bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh tại Việt Nam của các tổ chức, công dân Việt Nam; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam. - Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào khác để tiến hành các hoạt động đầu tư. - Đầu tư ra nước ngoài: là đầu tư của các tổ chức hoặc cá nhân của nước này bỏ vốn đầu tư tại nước khác.
Theo tính chất đầu tư: SVTH: Huỳnh Thị Như Thảo 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. Bùi Dũng Thể - Đầu tư chiều rộng (đầu tư mới): là đầu tư để xây dựng mới các công trình, nhà máy, thành lập mới các Công ty, mở các cửa hàng mới, dịch vụ mới. Thời gian thu hồi vốn lâu và độ mạo hiểm cao. - Đầu tư chiều sâu: là loại đầu tư nhằm khôi phục, cải tạo, nâng cấp, trang bị lại, đồng bộ hoá, hiện đại hóa, mở rộng các đối tượng hiện có.
Chủ đầu tư trục tiếp quản lý vốn đã bỏ ra, đòi hỏi vốn ít, thời gian thu hồi vốn nhanh. Theo thời gian sử dụng: - Đầu tư ngắn hạn - Đầu tư trung hạn - Đầu tư dài hạn Theo lĩnh vực hoạt động: có đầu tư cho SXKD, đầu tư cho nghiên cứu khoa học, đầu tư cho quản lý… Theo tính chất sử dụng vốn đầu tư: - Đầu tư phát triển: là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn nhằm gia tăng giá trị tài sản. Đây là phương thức căn bản để tái sảng xuất mở rộng. - Đầu tư chuyên dịch: là phương thức đầu tư trực tiếp, việc bỏ vốn nhằm chuyển dịch sở hữu giá trị tài sản (mua cổ phiếu, trái phiếu 1/4…) Theo ngành đầu tư: - Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội.
- Đầu tư phát triển công nghiệp: nhằm xây dựng các công trình công nghệp - Đầu tư phát triển dịch vụ: nhằm xây dụng các công trình dịch vụ 1. Đặc điểm của đầu tư: - Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tư thường là quyết định tài chính.Nguyễn Thị Thúy Hằng, 2020) - Đòi hỏi vốn lớn: có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc, thiết bị, nhà xưởng,. Vốn đầu tư có thể là vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn.Nguyễn Thị Thúy Hằng, 2020) - Hoạt động đầu tư là hoạt động luôn cần có sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và SVTH: Huỳnh Thị Như Thảo 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. Bùi Dũng Thể lợi ích trong tương lai.Nguyễn Thị Thúy Hằng, 2020) - Hoạt động đầu tư thường diễn ra trong một thời gian tương đối dài, trong nhiều năm, thường từ 2 năm trở lên, có thể lên đến 50 năm, nhưng tối đa không quá 70 năm.Nguyễn Thị Thúy Hằng, 2020) - Do thời gian đầu tư thường khá dài nên mức độ rủi ro khi đầu tư cao, thời gian càng dài mức độ rủi ro càng cao.Nguyễn Thị Thúy Hằng, 2020) - Lợi ích do dự án mang lại được biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính là lợi nhuận của DN và lợi ích kinh tế xã hội (lợi ích kinh tế) được biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế xã hội.
Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của cả cộng đồng.Nguyễn Thị Thúy Hằng, 2020) 1. Lý luận cơ bản về vốn đầu tư: 1. Khái niệm vốn đầu tư: Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác nhau như liên doanh, liên kết hoặc tài trợ của nước ngoài… nhằm để : tái sản xuất, các tài sản cố định để duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, để đổi mới và bổ sung các cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các ngành hoặc các cơ sở kinh doanh dịch vụ, cũng như thực hiện các chi phí cần thiết tạo điều kiện cho sự bắt đầu hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật mới được bổ sung hoặc mới được đổi mới. (Hồ Tú Linh, 2014) Hay nói cách khác, vốn đầu tư là tổng số tiền mà chủ đầu tư bỏ ra với mong muốn đạt được một mục đích đầu tư nào đó.
Vốn đầu tư sẽ được thu về trong một khoảng thời gian nhất định. Vốn đầu tư được thể hiện dưới các dạng: - Các loại tiền tệ (ngoại tệ, nội tệ, vàng – bạc, đá quý). - Các loại tài sản khác như: tài sản hữu hình (nhà xưởng, tư liệu sản xuất, tài nguyên khoáng sản, đất đai.) hoặc các tài sản vô hình (quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, dịch vụ, thương hiệu. Phân loại vốn đầu tư: SVTH: Huỳnh Thị Như Thảo 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.
Bùi Dũng Thể Dựa theo nguồn vốn huy động: - Vốn trong nước: bao gồm nguồn vốn của NSNN, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, nguồn vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp Nhà nước, nguồn vốn của các doanh nghiệp không thuộc Nhà nước ở trong nước. - Vốn nước ngoài: bao gồm Viện trợ phát triển chính thức ODA, các hình thức viện trợ khác; nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế. Dựa vào thời gian sử dụng vốn: - Vốn ngắn hạn: là lượng tiền được sử dụng để đầu tư trong thời hạn 1 năm. - Vốn trung hạn: là lượng tiền được sử dụng để đầu tư trong thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
- Vốn dài hạn: là lượng tiền được sử dụng để đầu tư trong thời hạn 5 năm trở lên. Dựa theo quan hệ quản lý vốn của chủ đầu tư: - Vốn đầu tư trực tiếp: là vốn được đầu tư vào hoạt động kinh tế do chủ đầu tư bỏ ra và trực tiếp tham gia vào quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động này có nhiều hình thức khác nhau như hợp đồng, liên doanh, lập công ty cổ phần. - Vốn đầu tư gián tiếp: là loại vốn được đầu tư vào hoạt động kinh tế nhằm đem lại hiệu quả cho bản thân người có vốn cũng như cho xã hội.
Người có vốn không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Hoạt động đầu tư gián tiếp được biểu hiện dưới các hình thức khác nhau như: mua cổ phiểu, trái phiếu, tín dụng… Ngoài ra còn có thể dựa vào các tiêu chí khác để phân loại vốn đầu tư. Lý luận cơ bản về thu hút vốn đầu tư vào khu kinh tế: 1. Khái niệm khu kinh tế: Theo Nghị định Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008: “ Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định.”[10] Theo Nghị định trên, một khu kinh tế phải có diện tích tối thiểu là 10 ngàn hecta (100 km²), có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế khu vực (có cảng biển nước SVTH: Huỳnh Thị Như Thảo 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.
Bùi Dũng Thể sâu hoặc gần sân bay), kết nối thuận lợi với các trục giao thông huyết mạch của quốc gia và quốc tế; dễ kiểm soát và giao lưu thuận tiện với trong nước và nước ngoài; có điều kiện thuận lợi và nguồn lực để đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật. Khái niệm thu hút vốn đầu tư: Thu hút vốn đầu tư là hoạt động nhằm khai thác, huy động các nguồn vốn đầu tư để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế. Bao gồm tổng hợp các cơ chế, chính sách, thông qua các điều kiện về hành lang pháp lý, kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội, các nguồn tài nguyên nhằm thu hút các nhà đầu tư vốn, khoa học công nghệ… để sản xuất, kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Vai trò của thu hút vốn đầu tư đối với các khu kinh tế: Vốn đầu tư góp phần thúc đẩy sự phát triển của khu kinh tế.
Một doanh nghiệp để có thể tồn tại và phát triển thì cần có một nguồn vốn nhất định, vốn là yếu tố đầu vào quan trọng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, là điều kiện tiền đề không thể thiếu của một doanh nghiệp. Nguồn vốn luôn là vấn đề quan trọng và đáng được quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp.