Lời mở đầu, Kết luận và các Phụ lục, Luận văn gồm 3 chƣơng với kết cấu nhƣ sau: Chƣơng 1: Lý luận chung về công tác đào tạo nguồn nhân lực. Chƣơng 2: Thực Trạng công tác đào tạo nhân lực tại Công ty Điện Lực Nam Định. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nhân lực tại Công ty Điện Lực Nam Định. 8 z CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1.
KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực hiện nay không còn xa lạ với nền kinh tế nƣớc ta. Tuy nhiên, quan niệm về vấn đề này hầu nhƣ chƣa thống nhất. Tùy theo mục tiêu cụ thể mà có những nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực.
Có thể nêu lên một số quan niệm nhƣ sau: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có khả năng lao động” [11, Tr. Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. “Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [11,Tr. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đƣơng lao động chính của xã hội.
Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân thì “Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện ra là số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định” [1,Tr. “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cƣ, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai. Sức mạnh và khả năng đó đƣợc thể hiện thông qua số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu dân số, nhất là số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [1,Tr.13] Theo Phạm Minh Hạc “Nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nƣớc hay một địa phƣơng sẵn sàng tham gia một công việc nào đó” [8,Tr. 9 z Những khái niệm nêu trên chỉ nguồn nhân lực ở phạm vi vĩ mô của nền kinh tế.
Tuy nhiên vấn đề nghiên cứu của luận văn là vấn đề đào tạo nhân lực của doanh nghiệp. Vậy trong phạm vi này, nguồn nhân lực đƣợc hiểu nhƣ thế nào? Theo Bùi Văn Nhơn: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lƣợng lao động của từng doanh nghiệp, là số ngƣời có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lƣơng” [10,Tr. Theo giáo trình Quản trị nhân lực, Đại học kinh tế Quốc dân do Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm chủ biên: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [7,Tr.8] Các khái niệm trên chƣa đƣa ra mối quan hệ, vai trò của nguồn nhân lực với sự phát triển của một tổ chức. Nguồn nhân lực trong một tổ chức đƣợc coi là yếu tố căn bản, là cơ sở, sức mạnh tạo nên hiệu quả hoạt động của tổ chức đó.
Vì vậy, khái niệm nguồn nhân lực đƣợc hiểu nhƣ sau: Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó có sức khỏe và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp. Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển của doanh nghiệp Vai trò của nguồn nhân lực là rất lớn và có tính quyết định đến sự phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên để nguồn nhân lực phát huy tốt vai trò chủ đạo trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi nguồn nhân lực phải đạt đƣợc những tiêu chuẩn nhất định về số lƣợng và chất lƣợng. Một nguồn nhân lực đƣợc coi là có chất lƣợng khi từng cá nhân ngƣời lao động đạt đƣợc các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, có đƣợc các đặc điểm về tinh thần ý thức tốt.
Xét trên khía cạnh vĩ mô nguồn nhân lực mạnh còn bao hàm một cơ cấu hợp lý. Cơ cấu của nguồn nhân lực đƣợc xem xét trên các khía cạnh cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ. Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo nguồn nhân lực là một loại hoạt động có tổ chức, đƣợc thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con ngƣời. Đào tạo là quá trình học tập để chuẩn bị con ngƣời cho tƣơng lai, để họ có thể chuyển tới công việc mới trong thời gian thích hợp.
Là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân một công việc mới dựa trên những định hƣớng tƣơng lai của tổ chức. Theo quan niệm này, khi nói đến đào tạo nguồn nhân lực là nói đến việc trang bị cho ngƣời lao động: kiến thức phổ thông, kiến thức chuyên nghiệp, kiến thức quản lý. Từ đó cho thấy: Đào tạo: Là hoạt động làm cho con người trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định. Là quá trình học tập để làm cho người lao động có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ.
Đào tạo nguồn nhân lực là cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển chức năng của con ngƣời. Việc đào tạo nguồn nhân lực không chỉ đƣợc thực hiện bên trong một tổ chức, mà còn bao gồm một loạt những hoạt động khác đƣợc thực hiện từ bên ngoài, nhƣ: học việc, học nghề và hành nghề. Kết quả của quá trình đào tạo nguồn nhân lực sẽ nâng cao chất lƣợng, phát triển nguồn nhân lực đó. Đào tạo là yếu tố quyết định cho sự phát triển của doanh nghiệp Trình độ tay nghề của ngƣời lao động đƣợc nâng lên từ đó nâng cao năng suất và hiệu quả công việc.
Nâng cao chất lƣợng thực hiện công việc. Giảm bớt những tai nạn và rủi ro trong lao động vì ngƣời lao động nắm vững nghề nghiệp, làm việc tốt hơn và có thái độ tốt hơn. Giảm bớt sự giám sát vì ngƣời đƣợc đào tạo sẽ là ngƣời có khả năng tự giám sát công việc nhiều hơn do hiểu rõ quy trình, hiểu rõ công việc. Tạo lực lƣợng dự bị về nhân lực để nâng cao tính ổn định và năng động của doanh nghiệp.
Tạo sự gắn bó giữa ngƣời lao động và doanh nghiệp. Tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút lao động cho doanh nghiệp, đặc biệt là những lao động có chất lƣợng và tiềm năng. 11 z Góp phần nâng cao giá trị thƣơng hiệu của doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh trên cả thị trƣờng sản phẩm và thị trƣờng lao động. Đào tạo là vũ khí chiến lược đối với các tổ chức Thực tế đã có những bằng chứng xác thực chứng tỏ đầu tƣ cho đào tạo gắn liền với khả năng sinh lợi lâu dài cho các tổ chức, các doanh nghiệp.
Những doanh nghiệp sau khi nâng cao chất lƣợng lao động qua các chƣơng trình đào tạo có hiệu quả đều cho năng suất cao hơn. Đào tạo đƣợc xem nhƣ một công cụ quan trọng để đạt tới những mục tiêu của tổ chức và của chính bản thân nhân viên. Mối liên kết giữa đào tạo và các mục tiêu là hiển nhiên, thế nhƣng ngƣời ta hay bị cuốn hút vào cuộc đấu tranh hàng ngày để thực hiện các chƣơng trình và đối phó với các cuộc khủng hoảng. Đào tạo trở thành một hoạt động chứ không phải một chiến lƣợc.
Đó là một nhận thức sai lầm. Đào tạo thực sự đem lại một hiệu quả trực tiếp cho việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức. Thậm chí quảng bá một chƣơng trình đào tạo tốt có tác dụng thu hút khách hàng và nâng cao uy tín của doanh nghiệp. Nguyên tắc đào tạo nguồn nhân lực Theo giáo trình Quản trị nhân lực, Đại học Kinh tế Quốc dân thì đào tạo nguồn nhân lực bao gồm những nguyên tắc sau: [7,Tr.97-98] Nguyên tắc một: Con ngƣời sống hoàn toàn có năng lực để phát triển, mọi ngƣời trong tổ chức đều có khả năng phát triển và sẽ cố gắng thƣờng xuyên phát triển để giữ vững sự tăng trƣởng của doanh nghiệp cũng nhƣ các cá nhân.
Con ngƣời luôn luôn có sự thích nghi cao đối với điều kiện, khi ngoại cảnh liên tục thay đổi, tri thức khoa học phát triển thì nhu cầu phát triển về mặt trí tuệ của con ngƣời là tất yếu. Nguyên tắc 2: Mỗi ngƣời đều có giá trị riêng vì vậy mỗi ngƣời là một con ngƣời cụ thể, khác với ngƣời khác và đều có khả năng đóng góp sáng kiến. Nguyên tắc 3: Lợi ích của ngƣời lao động và những mục tiêu của tổ chức có thể kết hợp đƣợc với nhau, những mục tiêu của tổ chức và phát triển nguồn nhân lực bao gồm: động viên, khuyến khích mọi thành viên cố gắng tăng cƣờng sự đóng góp của họ cho tổ chức, thu hút và sử dụng tốt những ngƣời có đủ năng lực trình độ, 12 z đạt đƣợc giá trị lớn nhất thông qua những sản phẩm của ngƣời lao động làm ra để bù lại những chi phí bỏ ra cho đào tạo và phát triển họ. Mặt khác những mong muốn của ngƣời lao động qua đào tạo là: ổn định để phát triển, có những cơ hội tiến bộ, thăng chức, có những vị trí làm việc thuận lợi mà ở đó có thể đóng góp, cống hiến đƣợc nhiều nhất, đƣợc cung cấp những thông tin về đào tạo có liên quan đến họ.
Khi nhu cầu cơ bản của họ đƣợc thừa nhận và bảo đảm. Các thành viên trong tổ chức sẽ phấn khởi làm việc. Nguyên tắc 4: Đào tạo ngƣời lao động là một sự đầu tƣ sinh lợi đáng kể vì đào tạo nguồn nhân lực là những phƣơng tiện để đạt đƣợc sự phát triển tổ chức có hiệu quả nhất. Mục tiêu của đào tạo nguồn nhân lực: Trực tiếp giúp ngƣời lao động thực hiện công việc tốt hơn, đặc biệt khi ngƣời lao động thực hiện công việc không đáp ứng tiêu chuẩn hoặc khi ngƣời lao động mới nhận công việc.
Cập nhật các kỹ năng kiến thức mới cho nhân viên, giúp họ áp dụng thành công các tiến bộ trong các mặt khoa học, kỹ thuật, công nghệ… vào công việc.