CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Nhân lực Theo sách Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai – Vấn đề và Giải pháp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia của các tác giả Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Đắc Hưng (2004) lại cho rằng: “Nhân lực chỉ người lao động kỹ thuật được đào tạo trong nguồn nhân lực ở một trình độ nào đó để có năng lực tham gia vào lao động xã hội. Năng lực của người lao động kỹ thuật được cấu thành bởi các yếu tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ và thói quen làm việc”.25] Cách hiểu này cho thấy cách xác định cơ cấu nhân lực của tổ chức và rộng ra là của quốc gia nhằm thuận lợi cho công tác đào tạo nhân lực. Bên cạnh đó vẫn đề cập đến các yếu tố bên trong cấu thành nên năng lực của người lao động.
Theo giáo trình Quản trị nhân lực (tập I), trường Đại học Lao động – Xã hội của tác giả Lê Thanh Hà (2015) thì: “Nhân lực được hiểu là nguồn lực trong mỗi con người. Nó bao gồm cả thể lực và trí lực. Nó thể hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc. Nó bao gồm cả sức khỏe (chiều cao, cân nặng, độ lớn, sức bền của lực,…), trình độ (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm), tâm lý, ý thức, mức độ cố gắng, sức sáng tạo, lòng đam mê,…” [6,tr.8] Đối với quan điểm này, nhân lực được hiểu như là sức lực của mỗi con người làm cho con người đó hoạt động và phát triển thông qua ba tiêu chí chính là thể lực, trí lực và tâm lực: Thể lực hay tình trạng sức khỏe của con người: chiều cao, cân nặng, độ bền, khả năng dẻo dai,… 13 Trí lực được thể hiện qua: kiến thức, sự hiểu biết của cá nhân; khả năng tư duy, học hỏi; khả năng vận dụng những kiến thức lý thuyết vào thực tế; kỹ năng, quan điểm về vấn đề,… Tâm lực chính là sức mạnh ý chí và tinh thần của con người như: thái độ trong công việc, tác phong làm việc; tinh thần hợp tác, giúp đỡ đồng nghiệp; lòng trung thành, nhiệt tình của người lao động với tổ chức, doanh nghiệp Như vậy, qua hai khái niệm trên có thể thấy nhân lực được hiểu khác nhau nhưng nhìn chung, nhân lực được xem xét trên hai khía cạnh chính: Nhân lực là nguồn lực của con người được cấu thành bởi ba yếu tố là thể lực, tâm lực và trí lực.
Nhân lực là người lao động được đào tạo ở trình độ nhất định để có năng lực tham gia vào đời sống lao động của xã hội.2 Đào tạo nhân lực Theo cuốn giáo trình Quản trị nhân lực (tập II), trường Đại học Lao động – Xã hội của tác giả Lê Thanh Hà (2015) thì: “Đào tạo là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động tiếp thu và rèn luyện các kỹ năng cần thiết để thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình…. Hiểu một cách cụ thể hơn, đào tạo là một quy trình có hoạch định và có tổ chức nhằm tăng kết quả thực hiện công việc”.183] Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì đào tạo được hiểu là: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người, làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và có khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người”.25] 14 Từ hai khái niệm đã được đề cập, có thể nhận ra rằng: Đào tạo chính là quá trình hoạt động có mục đích, quá trình này làm thay đổi hành vi, nhận thức của con người thông qua việc học tập và rèn luyện một cách có hệ thống nhằm tiếp thu kiến thức chuyên môn, lĩnh hội kinh nghiệm nghiệp vụ, nâng cao năng lực cá nhân để đáp ứng nhu cầu công việc thực tế của doanh nghiệp, tổ chức và xã hội. Đào tạo trong tổ chức, doanh nghiệp cơ bản có bốn dạng sau: đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo bổ sung và đào tạo nâng cao.2 Nội dung đào tạo nhân lực trong doanh nghiệp 1.1 Xác định nhu cầu đào tạo Nhu cầu đào tạo có thể được hiểu đơn giản là nguyện vọng thay đổi được hoặc được thay đổi khoảng cách giữa những gì hiện có và những gì mong muốn trong tương lai của người quản lý và người lao động. Việc xác định nhu cầu để đào tạo đóng một vai trò quan trọng, bởi: Dựa trên kết quả phân tích về năng lực hiện tại của nhân viên cũng như các kỹ năng mà doanh nghiệp mong muốn, thì sẽ biết được rằng cần phải đào tạo cái gì cho nhân viên.
Dựa theo ngân sách, đặc điểm và nội dung đào tạo để biết được rằng cần phải đào tạo như thế nào nhằm mang đến hiệu quả tốt nhất. Xác định được nhu cầu đào tạo sẽ đo lường được mức độ hiệu quả của việc đào tạo. Xác định nhu cầu đào tạo thường được tiến hành phân tích ba yếu tố chính là: nhu cầu của tổ chức, phân tích công việc và nhiệm vụ, phân tích nhân sự. 15 Phân tích tổ chức: Tầm nhìn và chiến lược phát triển của doanh nghiệp: đây có thể coi là điểm xuất phát cao nhất của nhu cầu đào tạo, là nhu cầu kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp.
Chiến lược phát triển là mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh trong tương lai hay xu hướng kinh doanh nhằm thoả mãn, phát triển người lao động hay vị thế trên thị trường. Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có mối quan hệ chặt chế với kế hoạch sản xuất và chiến lược kinh doanh của tổ chức. Nó ảnh hưởng đến khối lượng và loại hình đào tạo, nhu cầu đào tạo phát triển của doanh nghiệp. Sản phẩm của doanh nghiệp: sản phẩm khác nhau sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu cần đào tạo của doanh nghiệp.
Ví dụ như doanh nghiệp kinh doanh trong ngành công nghệ cao, thị hiếu tiêu dùng thay đổi nhanh chóng và ngày càng cao thì nhu cầu đào tạo lại, đào tạo phát triển là rất lớn, nó quyết định đến sự thất bại hay thành công của doanh nghiệp; doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cần sự thay đổi theo yêu cầu sử dụng khách hàng nên đào tạo mạnh vào kỹ năng cho người lao động. Các nguồn lực cho đào tạo: Đó là sự giới hạn về thời gian, tài chính, con người… Ngân sách chi cho đào tạo có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực mà yếu tố con người quyết định đến thành công hay thất bại trong kinh doanh thì nhu cầu cần được đào tạo, chất lượng đào tạo phải được đặt lên hàng đầu. Do vậy quỹ thời gian, tài chính dành cho đào tạo là lớn để đáp ứng nhu cầu đào tạo ngày càng gia tăng.
Các nhân tố khác thuộc môi trường bên trong: cơ cấu tổ chức quản lý, văn hóa doanh nghiệp, công nghệ, nhân lực. xem xét các yếu tố này có là nguyên nhân liên quan đến kết quả thực hiện công việc để xác định sự cần thiết của đào tạo 16 Phân tích công việc: Đây là quá trình xem xét, so sánh yêu cầu của công việc với trình độ thực có của người lao động để phát hiện ra sự bất cập giữa trình độ của người lao động với yêu cầu của công việc nhằm xác định công việc nào cần được đào tạo. Xác định được sự bất cập trong kết quả công việc giúp doanh nghiệp xác định rõ vấn đề cần giải quyết. Để xác định được cần tìm hiểu kết quả thực hiện công việc mà nhân viên đạt được trong thực tế và tìm hiểu mong muốn hay yêu cầu về kết quả thực hiện công việc đồng thời tiến hành so sánh giữa kết quả mong muốn hay yêu cầu với những kết quả đạt được trong thực tế để tìm ra sự chênh lệch.
Phân tích nhân viên: Xem xét kết quả thực hiện công việc của nhân viên, liệu những yếu kém trong kết quả thực hiện công việc của người lao động có phải do sự thiếu hụt những kĩ năng, kiến thức trong công việc hay do khả năng của người lao động, vấn đề liên quan đến động lực làm việc, thiết kế công việc không hợp lí, ý thức của người lao động, sự thay đổi công nghệ,. Từ đó xác định đúng nhu cầu đào tạo đi với người lao động là gì. Mức độ sẵn sàng tham gia vào đào tạo phụ thuộc rất lớn vào: tuổi tác, giới tính, khả năng nhận thức của người lao động. Người trẻ tuổi thường có xu hướng muốn tham gia đào tạo nâng cao trình độ, đông thời khẳng định vị thế.
Các phương pháp đánh giá xác định nhu cầu đào tạo: Phương pháp quan sát; Phương pháp bảng hỏi; Phương pháp phỏng vấn; Phương pháp nghiên cứu các tài liệu kỹ thuật; Phương pháp phân tích công việc và đánh giá kết quả công việc,… 17 1.2 Xây dựng kế hoạch đào tạo Dựa theo nhu cầu đào tạo thực tế, chủ chương đào tạo và các quyết định của Tổng Giám Đốc công ty để xây dựng kế hoạch chung đào tạo trong 1 năm. Trong kế hoạch đào tạo 1 năm sẽ trình bày rõ về việc mở những lớp đào tạo nào, thời gian cụ thể tổ chức các lớp đào tạo, dự trù kinh phí cho công tác đào tạo, các cán bộ công nhân viên được cử đi đào tạo tại đâu, kinh phí cử ngươi đi đào tạo. Ngoài ra, trong kế hoạch đào tạo 1 năm của Công ty cổ phần In và Bao bì GOLDSUN còn xác nhận phân công trách nhiệm các đơn vị thực hiện chính, đơn vị giám sát thực hiện kế hoạch đào tạo Xây dựng kế hoạch từng lớp đào tạo: Cán bộ chịu trách nhiệm chính tại đơn vị chịu trách nhiệm tổ chức khóa đào tạo sẽ phải đưa ra kế hoạch cụ thể. Để lập được kế hoạch này thì cần làm rõ một số nội dung sau: Mục tiêu cụ thể của lớp đào tạo; Thời gian đào tạo của các khóa học; Nội dung chương trình đào tạo gồm những gì; Căn cứ vào nội dung đào tạo để có thể thuê giảng viên phù hợp về đào tạo, xây dựng tài liệu đào tạo; Xác định giảng viên cho các khóa đào tạo; Thời gian, địa điểm đào tạo, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo Xác định mục tiêu đào tạo: Khi bắt đầu phác thảo một kế hoạch hay dự án thì tốt nhất là bắt đầu từ mục tiêu.