Tổng quan nghiên cứu
Trong tiến trình đổi mới kinh tế tại Việt Nam, khu vực nông nghiệp và nông thôn luôn khẳng định vai trò là trụ đỡ nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đưa nước ta trở thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới với sản lượng đạt trên 7,0 triệu tấn mỗi năm. Mặc dù đóng góp to lớn vào tăng trưởng vĩ mô, đời sống của cư dân nông thôn vẫn chịu nhiều thiệt thòi so với khu vực đô thị, với tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật ban đầu chỉ đạt khoảng 15,5%. Sự chênh lệch về mức sống và tình trạng thiếu hụt kỹ năng nghề nghiệp đã trở thành rào cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững.
Nhằm giải quyết triệt để vấn đề này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 với Bộ tiêu chí gồm 19 tiêu chuẩn toàn diện. Tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ - địa bàn trung du miền núi với hơn 80% dân số sống ở khu vực nông thôn, chất lượng nguồn nhân lực trực tiếp quyết định tiến độ hoàn thành các tiêu chí cốt lõi như thu nhập, cơ cấu lao động và giáo dục.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh của tác giả Ngô Anh Tuấn, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Cao Tô Linh tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, tập trung đánh giá toàn diện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Đoan Hùng trong giai đoạn 2011 - 2013. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là làm rõ thực trạng tổ chức dạy nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp, nhận diện các rào cản về cơ sở vật chất, giáo trình và giải quyết việc làm sau đào tạo. Từ đó, công trình xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2015 - 2020 nhằm nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên trên 50%, tạo động lực then chốt đưa từ 20% đến 30% số xã trên địa bàn đạt chuẩn nông thôn mới đúng lộ trình.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của các lý thuyết quản trị và kinh tế học phát triển hiện đại:
Lý thuyết Vốn nhân lực của Theodore Schultz và Gary Becker: Khẳng định kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo của người lao động là một dạng vốn kinh tế đặc biệt. Việc đầu tư vào đào tạo nghề cho lao động nông thôn giúp gia tăng năng suất cá nhân, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và mang lại mức tăng trưởng thu nhập hộ gia đình từ 15% đến 25% sau quá trình học tập.
Lý thuyết Phát triển nông thôn bền vững và Bộ 19 tiêu chí Nông thôn mới theo Quyết định số 800/QĐ-TTg: Đóng vai trò là hệ quy chiếu đánh giá hiệu quả phát triển. Trong đó, nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ hữu cơ giữa Tiêu chí số 14 về Giáo dục - Dạy nghề, Tiêu chí số 10 về Thu nhập và Tiêu chí số 12 về Cơ cấu tỷ lệ lao động phi nông nghiệp.
Khung đo lường sự thỏa mãn nghề nghiệp dựa trên Chỉ số mô tả công việc và Bảng câu hỏi đo lường sự thỏa mãn Minnesota: Đánh giá mức độ hài lòng của học viên đối với năng lực sư phạm, nội dung chương trình giảng dạy và cơ hội việc làm sau khi hoàn thành khóa đào tạo.
Các khái niệm trọng tâm bao gồm: Nguồn nhân lực nông thôn, Đào tạo nghề sơ cấp và dưới 3 tháng, Chuyển dịch cơ cấu lao động, Tiêu chuẩn nông thôn mới.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê huyện Đoan Hùng giai đoạn 2011 - 2013, các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đoan Hùng và Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra khảo sát chuyên sâu.
Quy mô mẫu điều tra đạt 320 đối tượng, bao gồm 270 lao động nông thôn đã qua các lớp đào tạo nghề và 50 cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề tại 8 xã đại diện trên địa bàn huyện Đoan Hùng. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cân bằng giữa các nhóm nghề nông nghiệp truyền thống và phi nông nghiệp mới nổi.
Về phương pháp phân tích, tác giả sử dụng thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm và phân tích chuỗi thời gian giai đoạn 2011 - 2013. Việc lựa chọn phương pháp này xuất phát từ yêu cầu lượng hóa chính xác sự chuyển dịch cơ cấu trình độ đào tạo, so sánh hiệu quả giữa lý thuyết và thực hành, đồng thời làm rõ mối liên hệ giữa chất lượng đào tạo với khả năng tìm kiếm việc làm thực tế của lao động địa phương.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, quy mô đào tạo nghề tăng trưởng tích cực nhưng cơ cấu trình độ đào tạo còn mất cân đối nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2011 - 2013, các cơ sở dạy nghề trên địa bàn huyện Đoan Hùng đã đào tạo được khoảng 4.250 lao động. Tuy nhiên, tỷ lệ học viên trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề ngắn hạn dưới 3 tháng chiếm tới 78,5%, trong khi trình độ trung cấp nghề chiếm 18,2% và trình độ cao đẳng nghề chỉ chiếm khiêm tốn 3,3%.
Thứ hai, cơ cấu ngành nghề đào tạo có sự chuyển biến rõ nét theo hướng đa dạng hóa. Nhóm nghề Nông - Lâm - Ngư nghiệp chiếm 54,6% tổng số học viên, tập trung chủ yếu vào kỹ thuật thâm canh bưởi đặc sản Đoan Hùng, kỹ thuật sản xuất chè chất lượng cao và chăn nuôi thú y. Nhóm nghề phi nông nghiệp chiếm 45,4%, tập trung vào may công nghiệp, sửa chữa máy nông cụ, kỹ thuật điện dân dụng và chế biến thực phẩm.
Thứ ba, kết quả thi tốt nghiệp đạt tỷ lệ hoàn thành cao nhưng có sự chênh lệch rõ rệt giữa lý thuyết và kỹ năng tay nghề. Tỷ lệ học viên tốt nghiệp được cấp chứng chỉ đạt bình quân 94,8%. Đáng chú ý, kết quả thi thực hành nghề đạt loại khá và giỏi lên tới 76,4%, cao hơn đáng kể so với kết quả thi lý thuyết nghề (loại khá giỏi đạt 68,2%), chứng minh lao động nông thôn có ưu thế nổi bật về kỹ năng thao tác trực quan.
Thứ tư, hiệu quả sử dụng lao động sau đào tạo bước đầu mang lại giá trị kinh tế. Khoảng 72,3% học viên sau đào tạo đã áp dụng thành công kiến thức vào sản xuất hộ gia đình hoặc tự tạo việc làm tại chỗ với mức thu nhập bình quân tăng từ 1,2 đến 1,5 lần so với trước khi học nghề. Dẫu vậy, tỷ lệ lao động được doanh nghiệp tuyển dụng trực tiếp chỉ đạt khoảng 18,6%.
Thảo luận kết quả
Sự áp đảo của các khóa đào tạo sơ cấp và ngắn hạn bắt nguồn từ đặc thù thời vụ của sản xuất nông nghiệp, khiến người nông dân ưu tiên các khóa học ngắn ngày để không làm gián đoạn lao động chính.
Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ cột kép thể hiện tương quan số lượng tuyển sinh và tốt nghiệp qua 3 năm liên tiếp, kết hợp biểu đồ tròn mô tả tỷ trọng cơ cấu ngành nghề. Bảng ma trận so sánh kết quả thi lý thuyết và thực hành giúp các nhà hoạch định nhận diện rõ điểm nghẽn về kiến thức bổ trợ của học viên.
So sánh với các nghiên cứu tương đồng tại vùng Trung du miền núi phía Bắc, tỷ lệ tự tạo việc làm của huyện Đoan Hùng đạt mức cao hơn mức trung bình 65% của khu vực nhờ khai thác tốt cây trồng đặc sản bản địa. Tuy nhiên, mối liên kết giữa cơ sở dạy nghề và cộng đồng doanh nghiệp địa phương vẫn còn lỏng lẻo, dẫn tới việc giải quyết đầu ra cho lao động phi nông nghiệp chưa đạt kỳ vọng tối ưu.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch đào tạo nghề gắn liền với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đoan Hùng. Mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 48% vào năm 2018 và vượt mốc 55% vào năm 2020. Cơ quan chủ trì thực hiện là Ủy ban nhân dân huyện Đoan Hùng phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội.
Thứ hai, củng cố và đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp huyện và các trạm thực hành vệ tinh. Dành nguồn vốn ngân sách nâng cấp tối thiểu 10 phòng thực hành đạt chuẩn kỹ thuật giai đoạn 2015 - 2017. Đơn vị thực hiện gồm Ban Quản lý dự án huyện và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Thứ ba, đa dạng hóa và đổi mới phương thức đào tạo, đẩy mạnh hình thức dạy nghề lưu động trực tiếp tại các thôn, bản. Tăng tỷ trọng thời lượng thực hành lên tối thiểu 70% tổng chương trình học từ năm 2015. Chủ thể triển khai là Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm phối hợp cùng đội ngũ nghệ nhân, kỹ sư nông nghiệp địa phương.
Thứ tư, xây dựng mô hình liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng giữa nhà trường, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến bưởi, chè xuất khẩu. Phấn đấu đạt chỉ tiêu trên 35% học viên tốt nghiệp được doanh nghiệp tiếp nhận việc làm ổn định giai đoạn 2016 - 2020. Chủ thể thực hiện là Hội Doanh nghiệp huyện cùng Ủy ban nhân dân các xã.
Thứ năm, bảo đảm và tối ưu hóa nguồn vốn chính sách theo Đề án 1956 của Chính phủ, cam kết giải ngân đúng đối tượng với 100% người thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo và gia đình chính sách được hỗ trợ học phí và kinh phí sinh hoạt.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm 1 - Cán bộ quản lý nhà nước và chuyên viên hoạch định chính sách cấp huyện, xã: Nắm bắt phương pháp luận đánh giá 19 tiêu chí Nông thôn mới để lập kế hoạch phân bổ ngân sách đào tạo nghề chính xác hơn, gia tăng hiệu quả giải ngân các chương trình mục tiêu quốc gia thêm khoảng 30%.
Nhóm 2 - Ban giám hiệu và giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Tham khảo kinh nghiệm xây dựng chương trình giảng dạy tích hợp lý thuyết - thực hành theo tỷ lệ chuẩn 30/70, giúp nâng tỷ lệ học viên đạt tay nghề khá giỏi lên trên 75%.
Nhóm 3 - Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Quản trị Kinh doanh, Kinh tế Phát triển: Tiếp cận bộ công cụ khảo sát thực chứng với cỡ mẫu 320 đối tượng và phương pháp phân tầng đại diện để ứng dụng vào các công trình nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực địa phương.
Nhóm 4 - Chủ doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp và cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp: Xây dựng cơ chế phối hợp đào tạo nghề theo đơn đặt hàng, giúp cắt giảm từ 20% đến 40% chi phí tuyển dụng và đào tạo lại công nhân mới.
Câu hỏi thường gặp
Mục tiêu trọng tâm của công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Đoan Hùng là gì?
Mục tiêu cốt lõi là chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, nâng cao năng suất tay nghề và gia tăng thu nhập hộ gia đình nhằm hoàn thành 19 tiêu chí Nông thôn mới. Giai đoạn 2011 - 2013, huyện đã đào tạo 4.250 người, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế bền vững tại địa phương.
Những ngành nghề nào được ưu tiên đào tạo hàng đầu tại địa phương?
Chương trình tập trung cân bằng giữa nghề nông nghiệp chiếm 54,6% học viên (kỹ thuật chăm sóc bưởi Đoan Hùng, trồng chè cao sản, thú y) và nghề phi nông nghiệp chiếm 45,4% học viên (may công nghiệp, sửa chữa máy nông cụ, kỹ thuật điện và chế biến thực phẩm).
Điểm hạn chế lớn nhất trong công tác đào tạo nghề tại huyện giai đoạn 2011 - 2013 là gì?
Hạn chế lớn nhất là cơ cấu đào tạo nghiêng quá mạnh về trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng chiếm tới 78,5%, trong khi trình độ trung cấp và cao đẳng còn rất thấp. Đồng thời, tỷ lệ kết nối việc làm trực tiếp với các doanh nghiệp bao tiêu mới chỉ dừng lại ở mức 18,6%.
Người học nghề tại địa phương được hưởng những chính sách hỗ trợ tài chính nào?
Theo Đề án 1956, người học thuộc diện hộ nghèo, gia đình chính sách được hỗ trợ 100% học phí, cấp tiền ăn trưa và hỗ trợ chi phí đi lại. Nhờ đó, hơn 90% học viên tham gia học nghề tại 28 xã, thị trấn của huyện đã hoàn thành tốt khóa học và nhận chứng chỉ.
Doanh nghiệp đóng vai trò gì trong việc nâng cao chất lượng dạy nghề nông thôn?
Doanh nghiệp tham gia cung cấp xưởng thực hành, đóng góp ý kiến hoàn thiện giáo trình và cam kết tiếp nhận lao động sau đào tạo. Sự hợp tác chặt chẽ này giúp nâng tỷ lệ học viên có việc làm đúng chuyên ngành từ 65% lên mức trên 85%.
Kết luận
Công tác đào tạo nghề là đòn bẩy chiến lược mang tính quyết định đến tiến độ xây dựng nông thôn mới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Giai đoạn 2011 - 2013 ghi nhận bước tiến quan trọng với 4.250 lao động được đào tạo, đạt tỷ lệ tốt nghiệp 94,8% và giúp thu nhập người học tăng từ 1,2 đến 1,5 lần.
Thách thức cốt lõi cần giải quyết là chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu đào tạo từ ngắn hạn sơ cấp sang trung cấp nghề chuyên sâu nhằm đáp ứng tiêu chuẩn công nghiệp hóa.
Mô hình liên kết 4 nhà gồm Nhà nước, Nhà trường, Doanh nghiệp và Nhà nông là chìa khóa then chốt để nâng tỷ lệ có việc làm sau đào tạo lên trên 80%.
Lộ trình giai đoạn 2015 - 2020 đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn huyện lên trên 55%, góp phần đưa Đoan Hùng trở thành điểm sáng xây dựng nông thôn mới của tỉnh Phú Thọ.
Luận văn đã đóng góp hệ thống giải pháp toàn diện, có giá trị ứng dụng cao cho các cấp chính quyền và cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Hãy khai thác và áp dụng ngay các giải pháp thực chứng của công trình để tối ưu hóa nguồn nhân lực nông thôn trong giai đoạn mới.