phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 4 chƣơng là: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Phƣơng pháp nghiên cứu. Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Các giải pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN & THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Khái niệm và phân loại về đào tạo nghề 1. Khái niệm về nghề Khái niệm "nghề" theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định.
Thuật ngữ "nghề" đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. + Tại Nga: "Là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thƣờng là nguồn gốc của sự sinh tồn". + Tại Pháp: "Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một ngƣời để từ đó tìm đƣợc phƣơng tiện sống". + Tại Anh: "Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học học nghệ thuật".
+ Tại Đức "Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải đƣợc đào tạo ở trình độ nào đó". + Tại Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề đƣợc đƣa ra song chƣa đƣợc thống nhất, có định nghĩa nêu: "Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi đƣợc. Nghề mang tính tƣơng đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội". Theo giáo trình Kinh tế Lao động của trƣờng Đại học Kinh Tế Quốc Dân thì:"Khái niệm nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một ngƣời lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định" Khái niệm nghề mang một số nét đặc trƣng nhất định sau: - Là hoạt động, là công việc của con ngƣời đƣợc lặp đi lặp lại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 - Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội. - Là phƣơng tiện để sinh sống. - Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định. Một số quan niệm cơ bản về đào tạo nghề Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc yêu cầu cần thiết của xã hội.
Đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi cá nhân để họ thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất. Theo giáo trình Kinh tế Lao Động của trƣờng ĐH Kinh Tế Quốc Dân thì: "Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho ngƣời lao động, để họ có thể đảm nhận đƣợc một số công việc nhất định”. Theo tài liệu của Bộ LĐTB&XH (2002): "Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho ngƣời lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để ngƣời lao động sau khi hoàn thành khóa học hành đƣợc một nghề trong xã hội". Theo Luật dạy nghề: "Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học".
Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tƣơng lai. Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ biện chứng với nhau: + Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá kiến thức lý thuyết và thực hành để các học viên có đƣợc một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo nhất định về nghề nghiệp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 + Học nghề: "Là quá trình tiếp thu những kiến thức lý thuyết và thực hành của ngƣời lao động để đạt đƣợc một trình độ nghề nghiệp nhất định”. Trong đào tạo nghề có các mục đích đào tạo nhƣ sau: * Đào tạo nghề mới: Là đào tạo những ngƣời chƣa có nghề, những ngƣời đến tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động chƣa đƣợc học nghề.
* Đào tạo lại nghề: Là đào tạo đối với những ngƣời đã có nghề, có chuyên môn nhƣng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn. * Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: Là quá trình cập nhật hóa kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và đƣợc xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn. Các hình thức đào tạo trên đƣợc phân biệt theo các tiêu chí sau: - Nội dung: Nội dung học có liên quan tới nghề chuyên môn mới hay cũ. - Mục đích: Để tiếp tục làm nghề cũ hay đổi nghề.
- Lần đào tạo: Lần đầu tiên hay tiếp nối. - Văn bằng: Đƣợc cấp bằng, chứng chỉ hay không đƣợc cấp sau khi học. Các hình thức đào tạo nghề Tùy theo yêu cầu và điều kiện thực tế có thể áp dụng hình thức đào tạo cho phù hợp với đặc điểm của từng đối tƣợng nghề và ngƣời học nghề. - Kèm cặp trong sản xuất: Là hình thức đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, chủ yếu là thực hành ngay trong quá trình sản xuất do xí nghiệp tổ chức và đƣợc tiến hành dƣới hai hình thức: Kèm cặp theo cá nhân và kèm cặp theo tổ chức sản xuất.
Quá trình đào tạo đƣợc tiến hành qua các bƣớc: + Bƣớc 1: Phân công những công nhân có tay nghề cao vừa sản xuất vừa hƣớng dẫn thợ học nghề. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 + Bƣớc 2: Giao việc làm thử ngƣời học bắt tay vào làm thử dƣới sự kiểm tra, giám sát của ngƣời hƣớng dẫn. + Bƣớc 3: Giao việc hoàn toàn cho ngƣời học nghề khi ngƣời học nghề có thể tiến hành công việc độc lập (dƣới sự giám sát của ngƣời hƣớng dẫn). - Các lớp trong doanh nghiệp: Là các lớp do doanh nghiệp tổ chức nhằm đào tạo riêng cho mình hoặc cho các doanh nghiệp cùng ngành, cùng lĩnh vực.
Chủ yếu đào tạo nghề cho công nhân mới đƣợc tuyển dụng, đào tạo lại nghề, nâng cao tay nghề, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật mới. Chƣơng trình đào tạo gồm hai phần: + Phần lý thuyết đƣợc giảng tập trung do các kỹ sƣ, cán bộ kỹ thuật phụ trách. + Phần thực hành đƣợc tiến hành ở các phân xƣởng do các kỹ sƣ hoặc công nhân lành nghề hƣớng dẫn. - Các trƣờng chính qui: Các trƣờng dạy nghề tập trung, qui mô lớn, đào tạo công nhân, chủ yếu là đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên có trình độ cao.
Thời gian đào tạo từ hai đến bốn năm tùy theo nghề đào tạo, ra trƣờng đƣợc cấp bằng nghề. Trƣờng dạy nghề có bộ máy quản lý, đội ngũ giáo viên chuyên trách giàu kinh nghiệm, có bằng cấp chính quy và cơ sở vật chất giành riêng cho đào tạo chuyên biệt. - Các trung tâm dạy nghề: Thƣờng tập trung các loại hình đào tạo ngắn hạn, dƣới một năm. Chủ yếu là đào tạo trình độ sơ cấp nghề cho thanh niên và ngƣời lao động.
Đƣợc tổ chức tại một cơ sở đào tạo nghề chuyên biệt nhƣng với quy mô nhỏ. Hệ thống tổ chức đào tạo nghề + Hệ thống đào tạo chính qui: Bao gồm các trƣờng thuộc Bộ, Ngành và các địa phƣơng. Số HSSV đào tạo đƣợc nhà nƣớc giao chỉ tiêu hàng năm và cấp kinh phí theo chỉ tiêu. Qui chế thi, cấp bằng và cấp chứng chỉ theo qui định thống nhất của Nhà nƣớc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 + Các cơ sở đào tạo nghề: Theo Bộ Luật Lao động bao gồm tất cả các cơ sở đào tạo ngoài hệ thống trƣờng đào tạo chính qui nhƣ: - Trƣờng dạy nghề của các tổ chức, cơ quan, tổng công ty, doanh nghiệp; các trung tâm đào tạo nghề cấp huyện, các trung tâm dịch vụ việc làm đào tạo các lớp do ngành và các thành phần kinh tế yêu cầu. Kinh phí của các cơ sở này một phần đƣợc ngân sách nhà nƣớc cấp, một phần do Bộ, địa phƣơng chủ quản và ngƣời học tự đóng góp. - Các trƣờng dạy nghề tƣ thục và các lớp dạy nghề tƣ nhân: do các tổ chức, cá nhân tự tổ chức theo qui định của Nhà nƣớc. Kinh phí học tập chủ yếu do ngƣời học phải đóng góp.
Phân loại đào tạo nghề cho lao động nông thôn Căn cứ vào trình độ đào tạo, phƣơng thức đào tạo, đối tƣợng đào tạo, đào tạo nghề cho LĐNT đƣợc phân loại nhƣ sau: - Theo trình độ đào tạo: Trình độ Sơ cấp nghề, Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề. - Theo hình thức đào tạo: Dạy nghề chính quy và thƣờng xuyên, dạy nghề tập trung và lƣu động, dạy nghề tại doanh nghiệp và làng nghề. - Theo đối tƣợng đào tạo gồm: Dạy nghề cho những ngƣời bị thu hồi đất, dân tộc thiểu số, ngƣời nghèo, ngƣời khuyết tật; bộ đội xuất ngũ, các đối tƣợng chính sách ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng; dạy nghề cho thanh niên và cho phụ nữ. - Theo thời gian đào tạo: + Đào tạo dạy nghề dài hạn: Là hình thức đào tạo phổ biến tại các trƣờng đào tạo nghề chính qui.
+ Đào tạo dạy nghề ngắn hạn: Là cách tổ chức dạy nghề trong thời gian ngắn (từ ba đến mƣời hai tháng). Ngƣời học vừa học lý thuyết vừa thực hành theo hình thức kèm cặp tại nơi sản xuất, chủ yếu là rèn luyện kỹ năng thực hành nghề, chuyển giao công nghệ… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.