MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Với tốc độ phát triển vƣợt bậc của toàn cầu hóa cũng nhƣ cách mạng công nghiệp 4.0 thì tri thức con ngƣời đóng vai trò vô cùng quan trọng, cần phải đƣợc đầu tƣ phát triển để bắt kịp xu hƣớng phát triển xã hội trong các lĩnh vực, đặc biệt là nền kinh tế xã hội để tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Trƣớc xu thế đó, Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) mang một sứ mệnh cao cả về việc đào tạo nguồn lực lao động có trình độ, kỹ năng đáp ứng nhu cầu thị trƣờng lao động góp phần phát triển đất nƣớc. Với mục tiêu phát triển hệ thống GDNN, nhà nƣớc ta đã có những nhận định và phƣơng hƣớng phát triển thông qua việc ban hành những chủ trƣơng, chính sách nhằm nâng cao chất lƣợng GDNN.
Một trong những yếu tố góp phần phát triển GDNN đƣợc Nhà nƣớc xác định là sự liên kết của cơ sở đào tạo nghề với doanh nghiệp (DN), điều này đã đƣợc đề cập qua Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI ngày 19/01/2011 nhƣ sau: "Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo". Và chủ trƣơng này đƣợc tiếp tục đẩy mạnh qua Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII năm 2016 với mục tiêu: “Đẩy mạnh dạy nghề và gắn kết đào tạo với doanh nghiệp… Tăng cường quản lý nhà nước về nguồn nhân lực, gắn kết cung-cầu". Qua đó nhận định đƣợc rằng, nhà nƣớc ta đã rất quan tâm, chú trọng đến chất lƣợng GDNN thông qua đẩy mạnh hoạt động liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và DN. Cùng bối cảnh đó, Luật giáo dục nghề nghiệp cũng đƣợc thiết lập và đƣợc Quốc hội khóa XIII thông qua vào ngày 27/11/2014.
Bộ Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2015. Luật giáo dục nghề nghiệp đã làm thay đổi toàn diện hệ thống GDNN hiện hành. Để Luật sớm đƣợc thực hiện, các cấp Chính phủ, Bộ Lao động – Thƣơng binh & Xã hội và các Cơ quan có thẩm quyền đã nhanh chóng ban hành các văn bản, thông tƣ quy định, hƣớng dẫn thực hiện chủ trƣơng 1 đổi mới hệ thống GDNN theo Luật giáo dục nghề nghiệp. Với mục tiêu đổi mới hệ thống GDNN, nhà nƣớc đã định hƣớng phát triển cơ sở GDNN thông qua hoạt động liên kết giữa nhà trƣờng và DN, tạo sự đồng bộ hóa, bổ trợ cho nhau trong công cuộc phát triển khoa học kỹ thuật, tạo ra nguồn nhân lực có chất lƣợng, tăng năng suất lao động đáp ứng nhu cầu phát triển cho nền kinh tế - xã hội.
Qua đó, nhà nƣớc ta đã xây dựng những luật định nhằm tạo tiền đề cho sự phát triển liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và DN, nội dung này đƣợc xác định tại điều 51 của Luật giáo dục nghề nghiệp về quy định quyền của DN trong hoạt động GDNN. Theo đó, Nghị định số 48/2015/NĐ-CP ngày 15/5/ 2015 của Chính phủ đƣợc ban hành với mục đích hƣớng dẫn thực thi luật GDNN, đã nêu cụ thể về quy định đối với DN trong hoạt động GDNN. Đến năm 2019, Nghị định này đƣợc thay bằng Nghị định số 15/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ, đã bổ sung, điều chỉnh các nội dung cần thiết bao gồm nội dung về phối hợp với DN. Qua đó thấy đƣợc rằng, nhà nƣớc ta đã rất quan tâm đến sự phát triển của hệ thống GDNN cũng nhƣ mối liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và DN, kịp thời sửa đổi, bổ sung các điều mục quy định cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển hệ của GDNN trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Để hoạt động liên kết giữa cơ sở GDNN và DN đƣợc phát triển, đảm bảo mục tiêu đề ra, Bộ Lao động – Thƣơng binh & Xã hội đã thực hiện chủ trƣơng thông qua việc ban hành Công văn số 786/BLĐTBXH - TCGDNN ngày 02/03/2018 của Bộ Lao động – Thƣơng binh & Xã hội nhằm cụ thể hóa các nội dung về gắn kết cơ sở GDNN với DN. Qua đó Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp tiến hành triển khai thực hiện thông qua Quyết định số 203/QĐ-TCGDNN ngày 28/03/2018 về ban hành kế hoạch tổ chức các hoạt động gắn kết GDNN với thị trƣờng lao động, việc làm bền vững và an sinh xã hội. Đồng thời để tăng cƣờng, đẩy mạnh hoạt động liên kết với DN, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp ban hành Công văn số 589/TCGDNN-ĐTCQ ngày 29/3/2018 về việc đẩy mạnh hợp tác giữa cơ sở GDNN và DN, qua đó chỉ đạo các cơ quan, tổ chức liên quan có thẩm quyền thực hiện các giải pháp tăng cƣờng gắn kết với DN. Đồng thời, để đảm bảo hoạt động gắn kết giữa cơ sở GDNN và DN đạt đƣợc hiệu quả, Bộ Lao động 2 – Thƣơng binh & Xã hội ban hành Quyết định số 885/QĐ-LĐTBXH ngày 10/07/2018 về việc thành lập Tổ công tác gắn kết GDNN với thị trƣờng lao động, chủ trƣơng đƣợc triển khai thực hiện đồng bộ, có hệ thống, điều này cho thấy nhà nƣớc ta đã rất chú trọng và quyết tâm để phát triển hoạt động gắn kết cơ sở GDNN với DN.
Trải qua quá trình xây dựng và đổi mới hệ thống GDNN, nhà nƣớc ta đã nhận định gắn kết cơ sở GDNN và DN là vấn đề quan trọng, cấp thiết cần đƣợc đẩy mạnh để góp phần phát triển hệ thống GDNN. Đánh giá đƣợc tầm quan trọng của việc gắn kết với DN, Trƣờng Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore đã thực hiện liên kết với các DN trong suốt những năm qua và gặt hái đƣợc những thành quả nhất định. Nhà trƣờng đã thực hiện ký kết biên bản thỏa thuận với các DN về các hình thức hợp tác tiêu biểu nhƣ liên kết đào tạo, thực tập sản xuất, tuyển dụng. Ngoài ra, DN còn tham gia một số hoạt động trong đào tạo của nhà trƣờng nhƣ tham gia Hội đồng trƣờng, góp ý chƣơng trình đào tạo, bắt thăm đề thi tốt nghiệp.
Tuy nhiên hoạt động liên kết vẫn chƣa đƣợc đẩy mạnh, chƣa bắt kịp nhu cầu phát triển của xã hội, đa số chỉ hợp tác ngắn hạn, chƣa phát triển phạm vi liên kết trên diện rộng. Công tác quản lý hoạt động liên kết giữa nhà trƣờng và DN còn nhiều hạn chế, bất cập, công tác quản lý chƣa chặt chẽ, chƣa phát huy hết đƣợc tiềm năng của cả hai bên do vậy dẫn đến hiệu quả hoạt động liên kết chƣa cao. Cùng với chủ trƣơng chung về thực hiện cơ chế tự chủ đối với các cơ sở đào tạo nghề, Trƣờng Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore đã từng bƣớc xây dựng kế hoạch hoạt động cho cơ chế tự chủ, trƣớc bối cảnh đó thì việc phát triển hoạt động liên kết và quản lý tốt hoạt động liên kết giữa nhà trƣờng với DN là một yếu tố vô cùng cấp thiết mang lại nhiều lợi ích nhƣ tăng nguồn thu nhập cho đơn vị, cải tiến chƣơng trình đào tạo đáp ứng yêu cầu thị trƣờng lao động, nâng cao lĩnh vực khoa học kỹ thuật áp dụng thực tiễn, chất lƣợng đào tạo, giải quyết đầu ra và phát triển thƣơng hiệu của nhà trƣờng. Đối với DN sẽ có những lợi ích về đảm bảo nguồn nhân lực, rút ngắn thời gian tuyển dụng, tăng hiệu suất lao động, giảm chi phí sản xuất và tham gia xây dựng chƣơng trình đào tạo phù hợp 3 thực tiễn tại đơn vị, qua đó sẽ là nguồn động lực cho DN tích cực phối hợp với nhà trƣờng trong hoạt động đào tạo nghề trong tƣơng lai.
Xuất phát từ lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề tại trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore” để khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng, qua đó sẽ đề xuất biện pháp quản lý hoạt động liên kết giữa nhà trƣờng và DN trong đào tạo nghề tại Trƣờng Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động liên kết giữa nhà trƣờng và DN trong đào tạo nghề, đề tài tiến hành khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động liên kết giữa nhà trƣờng và DN trong đào tạo nghề tại Trƣờng Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động liên kết giữa nhà trƣờng và DN trong đào tạo nghề tại Trƣờng Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3. Các công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Trong lĩnh vực đào tạo nghề, mối liên kết giữa nhà trƣờng và DN đƣợc phát triển mạnh mẽ, tiêu biểu qua các mô hình liên kết đào tạo. Ở các nƣớc Châu Âu, hệ thống đào tạo kép đƣợc áp dụng nhƣ mô hình đào đạo chính thức với khung pháp lý cụ thể.
Đức và Áo là hai quốc gia đầu tiên thông qua luật đào tạo cho mô hình này vào năm 1969. Với mô hình này, thời gian đào tạo tại cơ sở của DN chiếm 70% ( ở Đức), 80% ( ở Áo) trong toàn bộ thời gian đào tạo nghề. Tại Tây Ban Nha, hệ thống đào tạo kép đƣợc thông qua vào năm 2013 với hai mô hình. Một mô hình đƣợc quản lý bởi Bộ Giáo dục và một mô hình đƣợc quản lý bởi Bộ Lao động.
Đào tạo nghề kép từ Bộ Giáo dục quy định thời gian tối thiểu cho việc đào tạo tại công ty là 33% trên tổng số thời gian đào tạo của khóa học. Mô hình do bộ lao động quản lý đƣợc áp dụng cho ngƣời dƣới 30 tuổi. Thời gian đào tạo và làm việc tại công ty không đƣợc quá 75% tổng số giờ của khóa học cho năm thứ 1 và 85% cho năm thứ 2 và thứ 3. Tại Bồ Đào Nha, hệ thống kép đƣợc xây dựng và quản lý bởi Bộ Việc làm và dạy nghề.
Chƣơng trình này áp 4 dụng cho những học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 không tiếp tục học chƣơng trình văn hóa để chuyển sang học nghề (Dual, V.T, 2004) Hệ thống kép của Đức là mô hình tiên phong trong việc kết hợp giữa trƣờng dạy nghề và DN. Mô hình này hiện nay đã đƣợc ứng dụng ở nhiều quốc gia Châu Âu, với đặc điểm chính là việc đào tạo nghề đƣợc diễn ra ở hai địa điểm học tập. Các trƣờng dạy nghề sẽ đảm trách việc dạy các môn lý thuyết nghề, các môn thực hành nghề đƣợc thực hiện và tài trợ bởi DN.