Chương 1 TỔNG QUAN 1. Nhân lực y tế 1.1 Nguồn nhân lực “Nguồn nhân lực” là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, phát triển khi xem con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Hiện nay có rất nhiều những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực: Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc:" Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng". Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [15].
Như vậy, nguồn nhân lực là tổng thể cả về số lượng và chất lượng của con người với tổng hòa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức – tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Thể lực là những yếu tố về sức vóc, thể trạng sức khỏe của con người phụ thuộc vào các điều kiện sinh hoạt, nghỉ ngơi, y tế, giới tính, tuổi tác… Trí lực là các yếu tố liên quan tới khả năng lao động, sáng tạo, tiếp thu… Phẩm chất đạo đức – tinh thần như tinh thần trách nhiệm, thái độ làm việc, khả năng thích nghi với các điều kiện lao động thay đổi… Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định [12]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với tư cách là tiềm năng lao động của mỗi vùng, địa phương thì nguồn nhân lực chính là tài nguyên cơ bản nhất đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội.2 Nguồn nhân lực y tế Theo định nghĩa về nguồn nhân lực y tế của Tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra vào năm 2006: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”. Như vậy, nguồn nhân lực y tế bao gồm cả cán bộ y tế chính thức và không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khỏe gia đình, lương y.); những người công tác trong ngành y tế và cả những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp) [26].
Nguồn nhân lực này không chỉ là các cán bộ chuyên môn về y, dược mà còn bao gồm cả đội ngũ kĩ sư, cử nhân, kĩ thuật viên, những người làm công tác quản lý và nhân viên… đang tham gia các hoạt động phục vụ y tế trên khắp các cơ sở y tế từ trung ương đến cơ sở. Nguồn nhân lực này cũng bao gồm cả các nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm tại các khu vực y tế công lập (bao gồm cả quân y) và khu vực y tế tư nhân. Nguồn nhân lực y tế vừa là một phần của nguồn nhân lực quốc gia, lại vừa là yếu tố cơ bản nhất trong hệ thống tổ chức y tế. Khi đề cập tới nguồn nhân lực này, cần đặt nó trong hai khái niệm cơ bản: - Khái niệm phát triển nguồn nhân lực: cần tập trung phát triển các kỹ năng cần thiết của nguồn nhân lực y tế nhằm hoàn thành tốt công việc cả về chuyên môn lẫn khả năng tổ chức công việc.
Phát triền nguồn nhân lực y tế đặc biệt phải đi trước nhu cầu xã hội dựa trên những dự báo về nhu cầu cũng như khả năng tài chính và kỹ thuật cung ứng cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng [3, 23]. - Khái niệm quản trị nguồn nhân lực: cần tạo ra một môi trường tổ chức thuận lợi và đảm bảo rằng nhân lực hoàn thành tốt công việc của mình bằng việc sử dụng các chiến lược nhằm xác định và đạt được sự tối ưu về số lượng, cơ cấu và sự phân bố nguồn nhân lực với chi phí hiệu quả nhất. “Mục đích chung là để có số nhân lực cần LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiết, làm việc tại từng vị trí phù hợp, đúng thời điểm, thực hiện đúng công việc, và được hỗ trợ chuyên môn phù hợp với mức chi phí hợp lý” [27]. Như vậy, có thể thấy rõ, các cơ sở y tế cần có hiểu biết rõ để đưa ra những chính sách quản lí nguồn nhân lực này một cách có hiệu quả.
Vì vậy, nhiệm vụ quản lý nguồn nhân lực cần được mọi cán bộ đặc biệt là người quản lý cơ sở y tế đó, có kiến thức và hiểu biết về công tác quản trị nguồn nhân lực [26].3 Các loại hình nhân lực y tế Cần nhiều loại nguồn nhân lực khác nhau để chăm sóc sức khỏe cộng đồng, trong đó quan trọng nhất là nguồn lực con người. Nguồn lực con người quyết định toàn bộ số lượng và chất lượng các hoạt động, dịch vụ chăm sóc sức khỏe [25]. Nhân lực y tế chủ yếu là bác sĩ, dược sĩ, y tá trung học, sơ học, cử nhân y tế công cộng, điều dưỡng viên bậc đại học, các loại kỹ thuật viên từ bậc đại học trở xuống [13]. Các bậc đào tạo bao gồm: bậc nghề (dược tá, công nhân kỹ thuật y tế, hộ sinh…), bậc trung học (y sĩ, trung cấp dược, y tế dự phòng, xét nghiệm…), bậc cao đẳng (dược sĩ cao đẳng, điều dưỡng cao đẳng, kỹ thuật viên y học cao đẳng…), bậc đại học (bác sĩ đa khoa, bác sĩ chuyên khoa, bác sĩ y học cổ truyền, dược sĩ đại học, cử nhân điều dưỡng, cử nhân kỹ thuật viên, cử nhân y tế công cộng…), bậc sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ, chuyên khoa 1, chuyên khoa 2, bác sĩ nội trú…) [1, 3].
Nhân lực dược 1. Khái niệm nhân lực dược Nhân lực dược là một phần của đội ngũ nhân lực y tế [1]. Nhân lực dược rất đa dạng, bao gồm tất cả những người công tác trong lĩnh vực dược như: Tiến sĩ Dược học, Thạc sĩ Dược học, Dược sĩ chuyên khoa 1, Dược sĩ chuyên khoa 2, Dược sĩ Đại học, Dược sĩ trung cấp… Phạm vi làm việc của nguồn nhân lực dược: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhân lực dược Các cơ quan Các đơn vị Cơ sở khám Các đơn vị quản lý Nhà đào tạo chữa và chăm sản xuất, nước nghiên cứu sóc sức khỏe kinh doanh Chuyên viên Cán bộ quản Cán bộ quản lý Cán bộ quản hoặc cán bộ lý, giảng viên hoặc chuyên lý hoặc quản lý các cơ hoặc các viên tại các bộ chuyên viên quan thuộc bộ nghiên cứu phận dược/sinh tại các cơ sở Y tế, sở Y tế. viên tại các hóa tại các sản xuất/kinh Chuyên viên trường đào bệnh viện, các doanh thuốc, hoặc cán bộ tạo y dược.
cơ sở khám mỹ phẩm và quán lý thuộc Cán bộ quản chữa bệnh. thực phẩm các bộ, sở, ban lý, nghiên cứu Chuyên gia về chức năng. ngành có công viên tại các sử dụng thuốc Chuyên gia tác liên quan viện nghiên tại bệnh viên, về các lĩnh đến y dược. cứu liên quan trung tâm vực đến chuyên truyền thông marketing, môn y dược.
và các cơ sở kinh doanh khác. thuốc Dù công tác trong cơ sở y tế nào thì nhu cầu đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cũng như các kĩ năng cần thiết khác là quan trọng và cần thiết. Tình hình nhân lực dược trên thế giới Theo khảo sát năm 2012 của Liên đoàn Dược phẩm Quốc tế về mật độ nhân lực Dược và hiệu thuốc dựa trên phân loại của ngân hàng thế giới cho thấy ở các Quốc gia có kinh tế thu nhập cao thì mật độ Dược sĩ và hiệu thuốc cao. Cơ hội và vai trò của Dược sĩ trong các Quốc gia có thu nhập cao lớn hơn so với các Quốc gia có thu nhập thấp [5].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khảo sát nhân lực Dược cụ thể ở gần 90 Quốc gia và vùng lãnh thổ cho thấy mật độ DSĐH/10.000 dân có sự khác nhau đáng kể giữa các Quốc gia và vùng lãnh thổ, từ 0,02 (Somalis) đến 25,07 (Malta), trung bình là 6,02 [5]. Nhân lực Dược có sự phân bố khác nhau trong các lĩnh vực và từng khu vực lãnh thổ khác nhau. Ở châu Âu, Dược sĩ làm việc ở các hiệu thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 70%) còn ở Đông Nam Á, Dược sĩ làm việc trong lĩnh vực Công nghiệp dược chiếm tỷ lệ cao (khoảng 30%) [14]. Tình hình nhân lực dược tại Việt Nam Theo thống kê của Cục quản lý Dược đến hết ngày 31/12/2010, tổng số nhân lực dược cả nước có 15.150 DSĐH và sau Đại học (nhân lực dược chưa bao gồm các cơ sở đào tạo nhân lực dược thuộc Bô y tế).1 Thống kê lượng dược sĩ Đại học tại các địa phương Nhu cầu Dược sĩ 2006 2007 2008 2009 2010 2020 DSĐH 9458 9075 12777 13846 13741 22653 DS sau ĐH 963 1089 1146 1330 1409 3800 Tổng 10421 10164 13923 15176 15150 26453 Bình quân số 1.76 DSĐH/vạn dân Bên cạnh đó, nhân lực dược phân bố không đồng đều giữa các tỉnh/thành, cơ quan quản lí nhà nước/cơ sở kinh doanh.
Nhân lực dược tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Chỉ riêng tại 2 thành phố này đã có 7.37% so với cả nước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Thống kê lượng dược sĩ Đại học tại các địa phương phương[20] 1200 1000 800 600 400 200 Số lượng 0 Đồng Trung Bắc Tây Đông Đồng ng bằng ng du và Trung Nguyên Nam bằng ng sông miền Bộ và Bộ sông Hồng ng núi duyên Cửuu phía hải Long Bắc miền Trung Thực tế phản ánh tình trạng mất cân đối phân bố nhân lực dược rõ rệt giữa các vùng miền,, Dược sĩ đại học tập trung đông nhất ở vùng đồng bằng sông Hồng [5]. Nhiều tỉnh còn thiếu nhiều Dược sĩ đại học như như: Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai,, Đắk Nông, Kon Tum, Ninh Thuận… nhiều tỉnh nhiều năm không tuyển chọn được Dược sĩ đại học.
học Cho đến nay nay, nhiều bệnh viện huyện vẫn chưa có Dược sĩ đại học dẫn đến những hạn chế không nhỏ trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cộng đồng [22].