Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống y tế, nguồn nhân lực dược đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cung ứng, quản lý và hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả cho người bệnh. Tuy nhiên, sự phân bố nhân lực y tế nói chung và nhân lực dược nói riêng tại Việt Nam còn tồn tại sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền và giữa các tuyến chuyên môn kỹ thuật. Đội ngũ dược sĩ có trình độ chuyên môn cao phần lớn tập trung tại các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh hoặc các cơ quan, đơn vị nghiên cứu tuyến Trung ương, trong khi tại các tuyến địa phương, đặc biệt là bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện, lực lượng trực tiếp thực hiện công tác dược bệnh viện phần lớn vẫn ở trình độ trung cấp và cao đẳng.

Nhằm chuẩn hóa và nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ y tế, Nhà nước và Bộ Y tế đã ban hành nhiều khung pháp lý chỉ đạo, bao gồm:

  • Thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 09/08/2013 của Bộ Y tế hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế (thay thế Thông tư số 07/2008/TT-BYT).
  • Quyết định ngày 08/04/2014 của Bộ Y tế về việc ban hành Chiến lược đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
  • Văn bản số 1915/BYT-K2ĐT ngày 08/04/2013 hướng dẫn triển khai Thông tư số 55/2012/TT-BGDĐT về liên thông trình độ cao đẳng, đại học trong ngành y dược.

Tại tỉnh Hải Dương, dù tỷ lệ bác sĩ và dược sĩ đại học trên vạn dân có xu hướng tăng qua các năm, song trình độ và cơ cấu nhân lực tại các bệnh viện vẫn bộc lộ hạn chế. Các khảo sát trước đó của ngành y tế tỉnh chỉ ra rằng tỷ lệ cán bộ y tế chưa đáp ứng yêu cầu công việc do thiếu kiến thức và kỹ năng chuyên môn dao động từ 43,6% đến 65%, trong khi nhu cầu được bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn chiếm từ 81,7% đến 91%. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận tốt nghiệp ngành Dược học của sinh viên Nguyễn Hải Hà (Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội) thực hiện đề tài: "Thực trạng đào tạo liên tục cho cán bộ Dược sĩ ở các Bệnh viện tại Thành phố Hải Dương năm 2017".

Nghiên cứu tập trung giải quyết 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng đào tạo liên tục cho cán bộ Dược sĩ ở các Bệnh viện tại Thành phố Hải Dương năm 2017.
  2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến đào tạo liên tục cho cán bộ Dược sĩ ở các Bệnh viện tại Thành phố Hải Dương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cán bộ, nhân viên y tế đang công tác tại Khoa Dược của 06 bệnh viện trên địa bàn thành phố Hải Dương. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm các đối tượng vắng mặt tại thời điểm điều tra (nghỉ phép, ra trực...) hoặc từ chối tham gia.
  • Phạm vi không gian: Khoa Dược của các bệnh viện đóng trên địa bàn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
  • Phạm vi thời gian: Toàn bộ đề tài được thực hiện từ tháng 09/2016 đến tháng 05/2017; thời gian trực tiếp thu thập dữ liệu thực địa diễn ra từ tháng 03/2017 đến tháng 04/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Nghiên cứu dựa trên khung khái niệm về nguồn nhân lực y tế theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2006): nhân lực y tế bao gồm toàn bộ những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nâng cao sức khỏe, kết hợp giữa hai khái niệm phát triển nguồn nhân lực và quản trị nguồn nhân lực.

Về mặt pháp lý và đào tạo, tác giả sử dụng các quy chuẩn của Thông tư số 22/2013/TT-BYT để định nghĩa và phân loại đào tạo liên tục (Continuing Medical Education - CME / Continuing Professional Development - CPD). Cụ thể:

  • Đào tạo liên tục là các khóa ngắn hạn bao gồm bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức y khoa, phát triển nghề nghiệp, chuyển giao kỹ thuật và chỉ đạo tuyến không thuộc hệ thống văn bằng quốc gia.
  • Định mức nghĩa vụ: Người hành nghề khám chữa bệnh phải tham gia tối thiểu 48 tiết học trong 2 năm liên tiếp (nếu không hoàn thành có thể bị thu hồi chứng chỉ hành nghề); người làm việc tại cơ sở y tế ngoài lĩnh vực khám chữa bệnh phải hoàn thành tối thiểu 120 tiết học trong 5 năm liên tiếp (mỗi năm tối thiểu 12 tiết).
  • Các chính sách hỗ trợ phát triển y tế cơ sở: Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg, Quyết định số 225/2005/QĐ-TTg, Quyết định số 1402/2007/QĐ-TTg, Đề án 1816 và Quyết định số 2196 của UBND tỉnh Hải Dương về quản lý chất lượng thuốc toàn diện theo chuẩn GPP, GSP, GLP.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional study) áp dụng phương pháp thu thập dữ liệu định lượng.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ. Tác giả tiến hành điều tra trên toàn thể 86 cán bộ y tế hiện diện và đồng ý tham gia nghiên cứu tại Khoa Dược của 06 bệnh viện trên địa bàn thành phố Hải Dương.
  • Công cụ thu thập dữ liệu: Bộ phiếu câu hỏi cấu trúc tự điền gồm 3 phần chính:
    1. Thông tin đặc trưng cá nhân (tuổi, giới, trình độ chuyên môn, trình độ học vị, thâm niên trong ngành, thâm niên tại bệnh viện, hình thức lao động).
    2. Quá trình và thực trạng tham gia đào tạo liên tục (đã học/chưa học, loại hình, nội dung đào tạo).
    3. Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục (nội dung mong muốn, thời lượng, địa điểm, nguyện vọng hỗ trợ kinh phí).
  • Quản lý và xử lý số liệu: Dữ liệu được làm sạch và nhập kép bằng phần mềm EpiData (sử dụng các tệp cấu trúc .QES, .REC, .CHK nhằm kiểm soát tính hợp lệ và hạn chế lỗi nhập liệu). Phân tích thống kê được thực hiện trên phần mềm STATA 13.
    • Thống kê mô tả: Tính toán tần số, tỷ lệ phần trăm (%), giá trị trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn (SD), giá trị nhỏ nhất và lớn nhất.
    • Thống kê suy luận: Sử dụng tỷ số chênh (Odds Ratio - OR), khoảng tin cậy 95% (95% CI) và kiểm định giả thuyết thống kê với mức ý nghĩa $p < 0{,}05$.
  • Kiểm soát sai số và đạo đức nghiên cứu: Bộ câu hỏi được thử nghiệm và xin ý kiến chuyên gia trước khi triển khai chính thức; tiến hành nhập lại ngẫu nhiên 10% số phiếu để đối soát. Nghiên cứu bảo đảm nguyên tắc tự nguyện, bảo mật thông tin cá nhân và trích dẫn trung thực tài liệu tham khảo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về nhân lực y tế, nhân lực ngành dược và đào tạo liên tục trên thế giới cũng như tại Việt Nam:

  • Thực trạng nhân lực dược: Trích dẫn khảo sát của Liên đoàn Dược phẩm Quốc tế (FIP, 2012), mật độ dược sĩ đại học trên thế giới dao động từ 0,02/10.000 dân (Somalia) đến 25,07/10.000 dân (Malta), trung bình là 6,02/10.000 dân. Tại Việt Nam, theo Cục Quản lý Dược đến ngày 31/12/2010, toàn quốc có 15.150 dược sĩ đại học và sau đại học (đạt bình quân 1,76 DSĐH/vạn dân). Nhân lực dược phân bố mất cân đối nghiêm trọng, tập trung chủ yếu ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh (chiếm 7,37% cả nước) và vùng đồng bằng sông Hồng, trong khi các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên thiếu hụt trầm trọng.
  • Quá trình phát triển đào tạo liên tục: Nêu lịch sử phát triển CME từ khuyến nghị của WHO năm 1984 đến chuyển hướng sang phát triển nghề nghiệp liên tục (CPD) năm 2003. Tại Việt Nam, hoạt động này chuyển dịch từ bồi dưỡng cán bộ trước năm 1990 sang thiết lập Ban đào tạo liên tục (NCEB/PCEB) với sự hỗ trợ của SIDA, hoàn thiện hành lang pháp lý với Thông tư 07/2008/TT-BYT và Thông tư 22/2013/TT-BYT.
  • Bối cảnh tỉnh Hải Dương: Tỉnh có diện tích 1.656,0 km², dân số năm 2016 là 2.890 nghìn người, mật độ 1.488 người/km². Báo cáo Sở Y tế Hải Dương cho thấy trong tổng số cán bộ dược toàn tỉnh, dược sĩ đại học chỉ chiếm 10,93%, trung cấp dược và kỹ thuật viên chiếm 50,86%, dược tá chiếm 38,20%. Tỷ lệ dược sĩ đại học/10.000 dân năm 2014 đạt 0,92 (chưa đạt chỉ tiêu 1,0 vào năm 2015).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận nghiên cứu thực địa:

  • Xác định địa bàn điều tra tại 06 bệnh viện đóng trên địa bàn thành phố Hải Dương trong thời gian từ tháng 09/2016 đến tháng 05/2017.
  • Xây dựng bảng biến số nghiên cứu hoàn chỉnh gồm nhóm biến đặc trưng cá nhân (tuổi, giới, học vị, thâm niên, hợp đồng/biên chế) và nhóm biến về thực trạng, nhu cầu đào tạo liên tục (tần suất tham gia, nội dung, thời gian, kinh phí, địa điểm mong muốn).
  • Mô tả quy trình nhập liệu kiểm soát lỗi qua phần mềm EpiData và phân tích dữ liệu đa biến, đơn biến trên STATA 13.
  • Trình bày các quy chuẩn đạo đức nghiên cứu y học và nhận diện hạn chế về quy mô mẫu nhỏ cục bộ ($n = 86$).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các số liệu định lượng thu được từ cuộc khảo sát 86 cán bộ dược sĩ:

  • Đặc trưng nhân khẩu học:
    • Nữ giới chiếm ưu thế tuyệt đối với 87,2% (75 cán bộ), nam giới chiếm 12,8% (11 cán bộ).
    • Độ tuổi trung bình là $35{,}58 \pm 8{,}43$ tuổi (nam: $39{,}27 \pm 12{,}77$; nữ: $35{,}04 \pm 7{,}57$). Nhóm tuổi tập trung nhiều nhất ở khoảng 26–30 tuổi (30,2%) và 31–35 tuổi (30,2%).
    • Về trình độ: Dược sĩ trung cấp chiếm tỷ lệ lớn nhất với 61,6% (53 người), cao đẳng chiếm 25,6% (22 người), đại học chỉ chiếm 12,8% (11 người). Về học vị, sau đại học chỉ có 2 Thạc sĩ (2,3%) và 3 Dược sĩ/Bác sĩ Chuyên khoa 1 (4,7%).
    • Về thâm niên và hình thức lao động: 50,0% cán bộ có thời gian công tác trong ngành $\ge 10$ năm; 39,6% công tác tại bệnh viện $\ge 10$ năm; 91,9% (79 người) thuộc diện biên chế nhà nước, chỉ 8,1% (7 người) là lao động hợp đồng.
  • Thực trạng đào tạo liên tục:
    • Tỷ lệ cán bộ đã từng tham gia đào tạo liên tục chỉ đạt 36,1% (31/86 người), còn lại 63,9% (55/86 người) chưa từng được tham gia.
    • Trong 31 người đã tham gia đào tạo: 80,6% là nữ; 38,7% có thâm niên tại bệnh viện $\le 5$ năm; 87,1% thuộc biên chế; 90,3% (28 người) tham gia các khóa ngắn hạn chuyên ngành; phân theo trình độ gồm trung cấp chiếm 54,8%, cao đẳng chiếm 29,0% và đại học chiếm 16,1%.
  • Nhu cầu đào tạo liên tục:
    • Có 84,9% cán bộ (73/86 người) bày tỏ nhu cầu cần được đào tạo liên tục trong thời gian tới.
    • 3 nội dung chuyên môn được mong muốn nhất: Dược lâm sàng (34,2%), Sử dụng kháng sinh an toàn và hiệu quả (28,8%), Tương tác thuốc (23,3%). Các nội dung khác chiếm tỷ lệ thấp: Sử dụng thuốc cho đối tượng đặc biệt (6,8%), Tổ chức quản lý kinh tế dược (4,1%), Cảnh giác dược (1,4%), Thông tin thuốc đông y (1,4%).
    • Thời gian mong muốn: Khóa học ngắn hạn $\le 1$ tuần được lựa chọn nhiều nhất (58,9%), từ 2–3 tuần chiếm 28,8%, trên 3 tuần chỉ chiếm 12,3%.
    • Địa điểm mong muốn: Tại bệnh viện nơi công tác chiếm 42,5%, tại các cơ sở đào tạo/bệnh viện trên địa bàn thành phố Hải Dương chiếm 37,0%, tại tuyến Trung ương chiếm 20,5%.
    • Nguyện vọng kinh phí: 80,8% mong muốn được hỗ trợ toàn bộ chi phí học tập.
  • Một số yếu tố liên quan:
    • Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa việc đã tham gia đào tạo liên tục với giới tính ($OR = 0{,}42$; $95%CI: 0{,}11 - 1{,}5$; $p > 0{,}05$), nhóm tuổi ($p > 0{,}05$), trình độ chuyên môn ($OR = 1{,}56$; $p > 0{,}05$) hay hình thức lao động ($OR = 2{,}56$; $p > 0{,}05$).
    • Đối với nhu cầu đào tạo liên tục: Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với nhóm tuổi ($p < 0{,}05$), trong đó nhóm 30–50 tuổi có nhu cầu cao nhất (58,9%), nhóm $\ge 50$ tuổi có nhu cầu thấp nhất (8,2%). Thâm niên trong ngành y dược cũng có liên quan có ý nghĩa thống kê ($p < 0{,}05$): nhóm không có nhu cầu đào tạo tập trung 61,5% ở cán bộ công tác $\ge 10$ năm và không có cán bộ nào dưới 5 năm thâm niên từ chối đào tạo.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tập trung phân tích, so sánh kết quả nghiên cứu với các công bố khoa học trong nước:

  • So sánh tỷ lệ tham gia đào tạo liên tục (36,1%) với nghiên cứu của Nguyễn Thành Trung (2015) trên cán bộ y học cổ truyền tỉnh Thanh Hóa (17,4%) và Trịnh Yên Bình (2013) (36,0%). Tác giả lý giải tỷ lệ tại Hải Dương cao hơn Thanh Hóa do địa bàn nghiên cứu là đô thị loại 2 thuộc vùng đồng bằng, điều kiện tiếp cận các khóa bồi dưỡng thuận lợi hơn vùng miền núi, tuyến huyện.
  • Bàn luận về cơ cấu trình độ: Tỷ lệ dược sĩ đại học và sau đại học tại các bệnh viện thành phố Hải Dương còn rất thấp (đại học 12,8%, CKI 4,7%, thạc sĩ 2,3%), phản ánh đúng thực tế thiếu hụt nhân lực trình độ cao tại tuyến y tế địa phương. Tỷ lệ biên chế cao (91,9%) tạo sự ổn định nhân sự nhưng đồng thời có thể là rào cản làm giảm động lực tự học tập nếu thiếu các quy định ràng buộc trách nhiệm.
  • Phân tích nhu cầu đào tạo tập trung vào Dược lâm sàng và Kháng sinh: Tác giả nhấn mạnh đây là sự chuyển biến nhận thức tích cực trước tình trạng đề kháng kháng sinh gia tăng và định hướng đẩy mạnh hoạt động dược lâm sàng của Bộ Y tế.
  • Bàn luận về các rào cản tổ chức: Kinh phí đào tạo của các cơ sở y tế hạn hẹp, quy định cấp ngân sách đào tạo định mức cũ (3,5 triệu/học sinh trung cấp, 6,5 triệu/sinh viên đại học theo quy định trước đó) không còn đáp ứng chi phí thực tế. Áp lực công việc hàng ngày tại khoa dược khiến các khóa học ngắn dưới 1 tuần tại địa phương trở thành phương án tối ưu.

Kết quả và đóng góp

Bảng tổng hợp các chỉ số thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục

Chỉ số nghiên cứu Phân loại / Nội dung Số lượng ($n$) Tỷ lệ (%)
Thực trạng đào tạo liên tục ($N=86$) Đã tham gia đào tạo liên tục 31 36,1%
Chưa từng tham gia 55 63,9%
Nội dung đã được đào tạo ($n=31$) Chuyên môn, chuyên ngành Dược 28 90,3%
Khác (phòng dịch, PCCC...) 3 9,7%
Nhu cầu đào tạo liên tục ($N=86$) Có nhu cầu 73 84,9%
Không có nhu cầu 13 15,1%
Nội dung mong muốn đào tạo ($n=73$) Dược lâm sàng 25 34,2%
Sử dụng kháng sinh an toàn, hiệu quả 21 28,8%
Tương tác sử dụng thuốc 17 23,3%
Sử dụng thuốc cho đối tượng đặc biệt 5 6,8%
Tổ chức, quản lý kinh tế dược 3 4,1%
Cảnh giác dược 1 1,4%
Thông tin thuốc đông y 1 1,4%
Thời lượng mong muốn ($n=73$) Ngắn hạn $\le 1$ tuần 43 58,9%
Từ 2 đến 3 tuần 21 28,8%
Dài hạn $> 3$ tuần 9 12,3%
Địa điểm mong muốn ($n=73$) Tại bệnh viện đang công tác 31 42,5%
Tại bệnh viện/trường ở TP. Hải Dương 27 37,0%
Tại cơ sở tuyến Trung ương 15 20,5%
Nguyện vọng kinh phí ($n=73$) Hỗ trợ toàn bộ 59 80,8%
Hỗ trợ một phần 2 2,7%
Không có ý kiến 12 16,4%

Bảng phân tích các yếu tố liên quan đến nhu cầu đào tạo liên tục

Biến số khảo sát Nhóm phân loại Có nhu cầu ($n=73$) Không có nhu cầu ($n=13$) Giá trị $p$ / Thống kê
Giới tính Nam 10 (13,7%) 1 (7,7%) $p > 0{,}05$
Nữ 63 (86,3%) 12 (92,3%)
Nhóm tuổi $\le 30$ tuổi 24 (32,9%) 5 (38,5%) $p < 0{,}05$
30 – 50 tuổi 43 (58,9%) 3 (23,0%) (Có ý nghĩa thống kê)
$\ge 50$ tuổi 6 (8,2%) 5 (38,5%)
Thâm niên ngành y dược $\le 5$ năm 17 (23,3%) 0 (0,0%) $p < 0{,}05$
5 – 10 năm 21 (28,8%) 5 (38,5%) (Có ý nghĩa thống kê)
$\ge 10$ năm 35 (47,9%) 8 (61,5%)
Trình độ chuyên môn Cao đẳng trở lên 28 (38,4%) 5 (38,5%) $OR = 0{,}99$; $p > 0{,}05$
Trung học 45 (61,6%) 8 (61,5%) ($95%CI: 0{,}29 - 3{,}3$)
Hình thức lao động Hợp đồng 6 (8,2%) 1 (7,7%) $OR = 1{,}07$; $p > 0{,}05$
Biên chế 67 (91,8%) 12 (92,3%) ($95%CI: 0{,}11 - 9{,}8$)

Đóng góp của đề tài

  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng đầu tiên về thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục riêng biệt cho khối dược sĩ bệnh viện tại thành phố Hải Dương sau khi Thông tư 22/2013/TT-BYT đi vào thực hiện. Các nghiên cứu trước đó tại Việt Nam (như của Nguyễn Thành Trung năm 2015 hoặc Trịnh Yên Bình năm 2013) chủ yếu khảo sát cán bộ y học cổ truyền hoặc cán bộ y tế nói chung ở địa bàn huyện.
  • Hỗ trợ công tác quản lý: Đưa ra các chỉ số định lượng cụ thể về nội dung ưu tiên (Dược lâm sàng, kháng sinh), thời lượng khóa học ($\le 1$ tuần) và địa điểm thuận lợi (tại chỗ hoặc nội tỉnh) để Sở Y tế tỉnh Hải Dương cùng Ban Giám đốc các bệnh viện xây dựng kế hoạch bồi dưỡng sát thực tế, tránh dàn trải lãng phí kinh phí.

Khuyến nghị của tác giả

  1. Đối với Sở Y tế và Bệnh viện: Cần rà soát và thực thi nghiêm túc quy định bắt buộc về số tiết đào tạo liên tục theo Thông tư 22/2013/TT-BYT; gắn việc hoàn thành đào tạo với đánh giá thi đua, bổ nhiệm và duy trì chứng chỉ hành nghề.
  2. Đối với các cơ sở đào tạo: Thiết kế các chương trình đào tạo ngắn hạn ($\le 1$ tuần) tập trung vào các chủ đề cấp thiết: Dược lâm sàng, giám sát sử dụng kháng sinh hợp lý và phát hiện tương tác thuốc; đa dạng hóa hình thức tổ chức lưu động ngay tại bệnh viện hoặc trong tỉnh.
  3. Về chính sách tài chính: Cần bố trí kinh phí đào tạo từ nguồn chi thường xuyên của đơn vị hoặc tìm kiếm các nguồn hỗ trợ hợp pháp nhằm đáp ứng nguyện vọng hỗ trợ kinh phí của đa số cán bộ (80,8%).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được ghi nhận

  • Cỡ mẫu nghiên cứu còn nhỏ: Tổng quy mô mẫu chỉ có 86 cán bộ do giới hạn về số lượng nhân lực làm việc tại Khoa Dược của 06 bệnh viện trên địa bàn thành phố Hải Dương ở thời điểm khảo sát. Cỡ mẫu này làm giảm sức mạnh thống kê khi kiểm định một số mối liên quan (nhiều chỉ số OR có khoảng tin cậy 95% rất rộng).
  • Sai số thu thập thông tin: Do phương pháp sử dụng bộ câu hỏi hồi cứu tự điền, nghiên cứu khó tránh khỏi sai số nhớ lại (recall bias) khi cán bộ hồi tưởng về các khóa học trong quá khứ, cũng như sự dè dặt hoặc thiếu nhiệt tình dẫn đến câu trả lời chưa phản ánh toàn diện thực tế.
  • Kinh nghiệm nghiên cứu: Tác giả tự nhìn nhận nghiên cứu viên còn thiếu kinh nghiệm trong việc thiết kế bảng hỏi và phân tích số liệu thống kê y tế chuyên sâu.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi khảo sát ra toàn bộ hệ thống bệnh viện tuyến huyện và các trung tâm y tế dự phòng trên địa bàn toàn tỉnh Hải Dương để có bức tranh toàn cảnh về nhân lực dược tỉnh.
  • Kết hợp nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu lãnh đạo khoa dược, lãnh đạo bệnh viện) nhằm làm rõ nguyên nhân sâu xa của việc tỷ lệ tham gia đào tạo còn thấp dù nhu cầu rất cao.
  • Đánh giá hiệu quả thực tế và sự thay đổi năng lực chuyên môn của cán bộ sau khi hoàn thành các khóa đào tạo liên tục chuyên ngành dược lâm sàng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với:

  • Sinh viên và học viên ngành Dược học, Y tế công cộng, Quản lý y tế: Tham khảo mẫu thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang định lượng trong lĩnh vực quản trị nhân lực y tế; cấu trúc bộ câu hỏi điều tra nhu cầu đào tạo; quy trình làm sạch và phân tích số liệu qua phần mềm EpiData và STATA.
  • Cán bộ quản lý Khoa Dược và Phòng Tổ chức cán bộ các bệnh viện: Cung cấp cơ sở khoa học để thiết lập chương trình đào tạo liên tục hàng năm bám sát nhu cầu thực tế của nhân viên (ưu tiên các khóa ngắn hạn dưới 1 tuần về sử dụng kháng sinh và dược lâm sàng).
  • Các cơ sở đào tạo Y - Dược: Sử dụng dữ liệu nhu cầu để biên soạn chương trình và giáo trình đào tạo ngắn hạn theo module, linh hoạt về địa điểm nhằm mở rộng dịch vụ đào tạo theo nhu cầu xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ cán bộ dược sĩ tại các bệnh viện thành phố Hải Dương đã từng tham gia đào tạo liên tục là bao nhiêu?

Theo kết quả nghiên cứu trên 86 cán bộ tại 06 bệnh viện, chỉ có 36,1% (31 cán bộ) đã từng tham gia các khóa đào tạo liên tục; còn lại 63,9% (55 cán bộ) chưa từng được tham gia bất kỳ chương trình đào tạo liên tục nào.

2. Trình độ chuyên môn của đội ngũ dược sĩ bệnh viện trong nghiên cứu này có đặc điểm gì nổi bật?

Đội ngũ cán bộ dược sĩ tại địa bàn khảo sát có trình độ chuyên môn chủ yếu ở bậc trung học và cao đẳng. Trong đó, Dược sĩ trung học chiếm tỷ lệ lớn nhất là 61,6% (53 người), Dược sĩ cao đẳng chiếm 25,6% (22 người). Trình độ Dược sĩ đại học chỉ chiếm 12,8% (11 người). Về trình độ sau đại học, toàn bộ mẫu nghiên cứu chỉ có 3 cán bộ có trình độ Dược sĩ/Bác sĩ Chuyên khoa 1 (4,7%) và 2 cán bộ có trình độ Thạc sĩ (2,3%).

3. Những nội dung chuyên môn nào được các dược sĩ mong muốn đào tạo liên tục nhiều nhất?

Trong số 73 cán bộ có nhu cầu đào tạo, 3 nội dung chuyên môn được mong muốn nhiều nhất lần lượt là:

  1. Dược lâm sàng: 34,2% (25 người).
  2. Sử dụng kháng sinh an toàn và hiệu quả: 28,8% (21 người).
  3. Tương tác sử dụng thuốc: 23,3% (17 người).

Các nội dung khác như sử dụng thuốc cho đối tượng đặc biệt (6,8%), quản lý kinh tế dược (4,1%), cảnh giác dược (1,4%) và thông tin thuốc đông y (1,4%) chiếm tỷ lệ thấp hơn.

4. Khóa học có thời lượng, địa điểm và mức hỗ trợ kinh phí như thế nào phù hợp với nguyện vọng của cán bộ?

Phần lớn cán bộ mong muốn tham gia các khóa học ngắn hạn có thời gian $\le 1$ tuần (58,9%); địa điểm tổ chức thuận tiện nhất là ngay tại bệnh viện nơi đang công tác (42,5%) hoặc tại các cơ sở đào tạo/bệnh viện trên địa bàn thành phố Hải Dương (37,0%). Về kinh phí, có tới 80,8% đối tượng mong muốn được bệnh viện hoặc các nguồn quỹ hỗ trợ toàn bộ kinh phí đào tạo.

5. Những yếu tố nhân khẩu học nào có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với nhu cầu đào tạo liên tục?

Phân tích thống kê suy luận chỉ ra 2 yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê ($p < 0{,}05$) với nhu cầu đào tạo liên tục:

  • Nhóm tuổi: Cán bộ trong độ tuổi 30–50 tuổi có nhu cầu đào tạo cao nhất (chiếm 58,9% trong tổng số người có nhu cầu); nhóm từ 50 tuổi trở lên có nhu cầu thấp nhất (8,2%).
  • Thâm niên công tác trong ngành y dược: Cán bộ có thâm niên càng thấp thì tỷ lệ có nhu cầu đào tạo càng cao (100% cán bộ có thâm niên $\le 5$ năm đều có nhu cầu học; ngược lại, trong nhóm không có nhu cầu đào tạo thì cán bộ thâm niên $\ge 10$ năm chiếm tới 61,5%).

Các yếu tố khác như giới tính, trình độ chuyên môn và hình thức lao động (hợp đồng hay biên chế) không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê ($p > 0{,}05$).


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Hải Hà đã phản ánh chân thực thực trạng công tác đào tạo liên tục cho cán bộ dược sĩ tại 06 bệnh viện trên địa bàn thành phố Hải Dương năm 2017, nơi tỷ lệ cán bộ đã được đào tạo còn ở mức thấp (36,1%) trong khi tỷ lệ có nhu cầu học tập rất cao (84,9%). Kết quả nghiên cứu xác định rõ nhu cầu trọng tâm của đội ngũ dược sĩ tập trung vào các chuyên đề Dược lâm sàng và Sử dụng kháng sinh thông qua các khóa bồi dưỡng ngắn hạn dưới 1 tuần tại địa phương. Các phát hiện thống kê trong đề tài cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giá trị, giúp các nhà quản lý y tế xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực dược phù hợp với khung pháp lý của Bộ Y tế và điều kiện thực tế của địa phương.