Đào Nguyên Phổ Trong Đời Sống Văn Hóa và Văn Học Việt Nam Cuối Thế Kỷ XIX Đầu Thế Kỷ XX

Luận văn thạc sĩ văn học phân tích ussh đào nguyên phổ trong đời sống văn hóa và văn học việt nam những thập niên cuối thế kỷ xix đầu, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

121
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

Lí do chọn đề tài

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: TIỂU SỬ VÀ NHỮNG BƯỚC CHUẨN BỊ CHO SỰ NGHIỆP CỦA ĐÀO NGUYÊN PHỔ

1.1. Sơ lược tiểu sử

1.2. Từ hành trình của một nhà nho chính thống đến một nhà nho có tư tưởng canh tân

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG HOẠT ĐỘNG VÀ ĐÓNG GÓP CỦA ĐÀO NGUYÊN PHỔ TRONG LĨNH VỰC VĂN HỌC, VĂN HÓA CỤ THỂ

2.1. Đào Nguyên Phổ - nhà báo tiên phong

2.2. Khái quát chung về tình hình báo chí những ngày đầu xuất hiện

2.3. Báo chí Bắc Kỳ và vai trò của nhà báo Đào Nguyên Phổ

2.4. Đào Nguyên Phổ và Đông Kinh Nghĩa Thục

2.5. Đông Kinh Nghĩa Thục - một tổ chức yêu nước đầu thế kỷ XX

2.6. Hoạt động của Đào Nguyên Phổ trong Đông Kinh Nghĩa Thục

2.7. Văn chương Đào Nguyên Phổ

2.8. Những bài đề tựa

3. CHƯƠNG 3: ĐÀO NGUYÊN PHỔ TRONG DÒNG CHẢY VĂN CHƯƠNG NHỮNG THẬP NIÊN CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ KỶ XX

3.1. Toàn cảnh văn chương thời đại cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

3.2. Xu hướng yêu nước

3.3. Xu hướng hiện thực trào phúng

3.4. Xu hướng lãng mạn thoát ly, khoái lạc chủ nghĩa

3.5. Xu hướng văn học nô dịch

3.6. Sự lựa chọn của Đào Nguyên Phổ

3.7. Đối diện với sự khủng hoảng nhiều mặt của xã hội

3.8. Chọn cây bút thay vì gươm đao truyền thống

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đào Nguyên Phổ và Văn Hóa Việt Nam Cuối Thế Kỷ XIX

Đào Nguyên Phổ (1861-1908) là một trong những nhân vật nổi bật trong văn hóa và văn học Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Ông không chỉ là một nhà văn, nhà báo mà còn là một nhà tư tưởng canh tân, có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của văn học Việt Nam trong bối cảnh xã hội đầy biến động. Thời kỳ này chứng kiến sự xâm lược của thực dân Pháp, dẫn đến nhiều thay đổi trong tư tưởng và văn hóa của người Việt. Đào Nguyên Phổ đã thể hiện rõ ràng những tư tưởng yêu nước và khát vọng đổi mới thông qua các tác phẩm và hoạt động của mình.

1.1. Tiểu Sử và Bối Cảnh Lịch Sử Của Đào Nguyên Phổ

Đào Nguyên Phổ sinh ra trong một gia đình không có truyền thống khoa cử nổi bật. Tuy nhiên, ông đã sớm thể hiện tài năng và đỗ đạt cao trong các kỳ thi. Cuộc đời ông gắn liền với những biến động của xã hội Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông đã tham gia vào nhiều hoạt động văn hóa và giáo dục, góp phần định hình tư tưởng yêu nước trong cộng đồng.

1.2. Đóng Góp Của Đào Nguyên Phổ Trong Văn Hóa Việt Nam

Đào Nguyên Phổ không chỉ nổi bật với vai trò là một nhà văn mà còn là một nhà báo tiên phong. Ông đã có những bài viết và tác phẩm nổi tiếng, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người dân trong bối cảnh xã hội đầy biến động. Những tác phẩm của ông không chỉ mang tính nghệ thuật mà còn chứa đựng những tư tưởng yêu nước sâu sắc, góp phần vào phong trào văn hóa và văn học thời kỳ này.

II. Những Thách Thức Trong Cuộc Đời Đào Nguyên Phổ

Cuộc đời Đào Nguyên Phổ không chỉ là những thành công mà còn đầy rẫy những thách thức. Ông phải đối mặt với áp lực từ xã hội, sự khắc nghiệt của thời cuộc và những khó khăn trong việc duy trì sự nghiệp văn học của mình. Những thách thức này đã ảnh hưởng đến tư tưởng và phong cách sáng tác của ông, tạo nên một Đào Nguyên Phổ vừa mạnh mẽ vừa nhạy cảm trước những biến động của xã hội.

2.1. Áp Lực Từ Thực Dân Pháp

Sự xâm lược của thực dân Pháp đã tạo ra một bối cảnh khó khăn cho Đào Nguyên Phổ và các nhà văn khác. Họ phải tìm cách thể hiện tư tưởng yêu nước mà không bị đàn áp. Đào Nguyên Phổ đã sử dụng văn chương như một vũ khí để đấu tranh cho tự do và độc lập của dân tộc.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Duy Trì Sự Nghiệp Văn Học

Mặc dù có tài năng, Đào Nguyên Phổ vẫn gặp khó khăn trong việc duy trì sự nghiệp văn học của mình. Ông phải đối mặt với sự cạnh tranh từ nhiều nhà văn khác và áp lực từ xã hội. Tuy nhiên, ông vẫn kiên trì theo đuổi đam mê viết lách và cống hiến cho văn hóa Việt Nam.

III. Phương Pháp Sáng Tác Của Đào Nguyên Phổ

Đào Nguyên Phổ đã áp dụng nhiều phương pháp sáng tác độc đáo trong các tác phẩm của mình. Ông không chỉ viết về những vấn đề xã hội mà còn thể hiện những cảm xúc sâu sắc của con người. Phong cách viết của ông thường mang tính hiện thực, kết hợp với những yếu tố lãng mạn, tạo nên sự hấp dẫn cho độc giả.

3.1. Phong Cách Viết Hiện Thực

Đào Nguyên Phổ thường sử dụng phong cách viết hiện thực để phản ánh chân thực cuộc sống của người dân. Ông miêu tả những khó khăn, khổ cực mà người dân phải chịu đựng dưới ách thống trị của thực dân Pháp, từ đó khơi dậy lòng yêu nước trong độc giả.

3.2. Kết Hợp Giữa Hiện Thực và Lãng Mạn

Ngoài phong cách hiện thực, Đào Nguyên Phổ còn kết hợp yếu tố lãng mạn trong các tác phẩm của mình. Ông tạo ra những hình ảnh đẹp đẽ, những ước mơ và khát vọng của con người, từ đó tạo nên sự đồng cảm và kết nối với độc giả.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Tư Tưởng Đào Nguyên Phổ

Tư tưởng và tác phẩm của Đào Nguyên Phổ không chỉ có giá trị trong bối cảnh lịch sử mà còn có ý nghĩa lớn trong việc định hình văn hóa và văn học Việt Nam hiện đại. Những quan điểm của ông về giáo dục, văn hóa và yêu nước vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.

4.1. Giáo Dục và Đổi Mới Tư Tưởng

Đào Nguyên Phổ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục trong việc nâng cao nhận thức của người dân. Ông tin rằng giáo dục là chìa khóa để giải phóng dân tộc và phát triển đất nước. Những tư tưởng này vẫn còn phù hợp trong bối cảnh hiện đại.

4.2. Tác Động Đến Văn Học Hiện Đại

Tác phẩm của Đào Nguyên Phổ đã ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nhà văn sau này. Những tư tưởng yêu nước và khát vọng đổi mới của ông đã trở thành nguồn cảm hứng cho các nhà văn hiện đại trong việc sáng tác và thể hiện tư tưởng của mình.

V. Kết Luận Về Đào Nguyên Phổ và Tương Lai Văn Học Việt Nam

Đào Nguyên Phổ là một trong những nhân vật quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam. Những đóng góp của ông không chỉ giúp định hình văn hóa và văn học thời kỳ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX mà còn để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc. Tương lai của văn học Việt Nam cần tiếp tục khai thác và phát huy những giá trị mà Đào Nguyên Phổ đã để lại.

5.1. Đánh Giá Về Đóng Góp Của Đào Nguyên Phổ

Đào Nguyên Phổ đã có những đóng góp quan trọng cho văn học và văn hóa Việt Nam. Ông không chỉ là một nhà văn mà còn là một nhà tư tưởng canh tân, có ảnh hưởng lớn đến nhiều thế hệ sau này.

5.2. Tương Lai Của Văn Học Việt Nam

Văn học Việt Nam cần tiếp tục phát huy những giá trị mà Đào Nguyên Phổ đã để lại. Những tư tưởng yêu nước và khát vọng đổi mới của ông vẫn còn nguyên giá trị và cần được truyền tải đến các thế hệ sau.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đào nguyên phổ trong đời sống văn hóa và văn học việt nam những thập niên cuối thế kỷ xix đầu thế kỷ xx

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TIỂU SỬ VÀ NHỮNG BƯỚC CHUẨN BỊ CHO SỰ NGHIỆP CỦA ĐÀO NGUYÊN PHỔ 1. Sơ lược tiểu sử. Đào Nguyên Phổ (1861 – 1908) thuộc vào hàng ngũ “thế hệ Phan Bội Châu”.

Toàn bộ cuộc đời không dài của Đào Nguyên Phổ nằm trọn trong giai đoạn đầu của cuộc xâm lăng của thực dân Pháp, cũng là giai đoạn đầu của cuộc chống xâm lăng mà dân tộc Việt Nam tiến hành chống chủ nghĩa thực dân phương Tây : một giai đoạn xã hội có nhiều biến động, có sự chuyển mình đau đớn, có sự khủng hoảng, bế tắc trong đường lối cứu nước. Vì vậy cả cuộc đời Đào Nguyên Phổ, dù ít dù nhiều, trong mỗi lựa chọn, mỗi biến cố đều nằm trong “từ trường” của cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ gian khổ. Hơn nữa, là người sớm nhập cuộc, tính cách và chí hướng của ông gắn bó rất chặt chẽ với thời thế. Đào Nguyên Phổ sinh ra và lớn lên tại làng Thượng Phán, tổng Đồng Trực huyện Quỳnh Côi, Thái Bình (nay là xã Quỳnh Hoàng, Quỳnh Phụ, Thái Bình).

Lúc nhỏ, Đào Nguyên Phổ có tên là Đào Doãn Cung, tên thân mật thường gọi ở nhà là cậu Ba. Gia đình Đào Nguyên Phổ cũng như dòng họ Đào trước Đào Nguyên Phổ không phải là một dòng họ nổi tiếng về khoa cử, gia đình của Đào Nguyên Phổ không phải là một gia đình thế nho. Thân phụ của Đào Doãn Cung là Đào Văn Lịch đỗ cử nhân khoa Mậu Thìn, triều Tự Đức năm thứ 21 (1868). Sau khi thi đỗ, ông Lịch được bổ làm tri huyện Bình Xuyên (Vĩnh Phúc) một thời gian rồi về quê dạy học.

Trước Đào Văn Lịch, tên tuổi dòng họ Đào hoàn toàn vắng bóng trong các bảng vàng hoặc trong các ngạch quan chức, nằm trong đại đa số những người “vô danh” rất bình thường ở làng Thượng Phán. Đến Đào Nguyên Phổ, cuộc đời và tên tuổi có thể nổi danh thì lại rơi vào thời kỳ mà xã hội Việt Nam có rất nhiều ba động. Trước khi Đào Nguyên Phổ ra đời ba năm, thực dân Pháp nổ súng vào cửa 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biển Đà Nẵng, bắt đầu đưa nước ta vào thời kỳ chiến tranh đau thương. Năm Đào Nguyên Phổ cất tiếng khóc chào đời cũng là năm thực dân Pháp chính thức xâm lược nước ta.

Chỉ một năm sau đó, năm 1862, thực dân Pháp ép buộc triều đình cắt ba tỉnh miền Đông cho chúng là Gia Định, Định Tường và Biên Hoà. Đến năm 1867, thực dân Pháp lại thực hiện tiếp ý đồ xâm chiếm từng bước nước ta khi chúng yêu cầu triều đình cắt ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên cho chúng. Có được Nam Kỳ, thực dân Pháp sẽ lần lượt chiếm nốt Bắc Kỳ và Trung Kỳ như một logic tất yếu. Tuy ở mỗi kỳ chúng áp dụng một hình thức cai trị khác nhau (Nam Kỳ là xứ trực trị, thuộc địa còn Bắc Kỳ và Trung Kỳ là đất bảo hộ) nhưng trong thực chất, thì quyền lực của thực dân Pháp bao trùm trên toàn cõi Việt Nam.

Ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân đến đất nước ta, nhân dân ta, nhất là nhân dân Nam Kỳ đã đứng lên kháng chiến chống lại sự xâm lược đó. Rồi các cuộc khởi nghĩa ở khắp nơi nổ ra như khởi nghĩa ở Huế năm 1866, khởi nghĩa Cần Vương năm 1885. Có thể nói cho đến lúc này và cả sau này, ở Thái Bình không có nhiều phong trào kháng Pháp thật rộng lớn chính vì vậy guồng quay của cuộc sống vẫn quay theo những đường ray sẵn có từ trước. Cậu bé Đào Doãn Cung được cha định hướng theo nghiệp khoa cử truyền thống.

Đào Doãn Cung tuổi trẻ đã nổi tiếng là người hay chữ, học chữ mau nhớ, thông minh, có tài ứng đối. Doãn Cung tham dự vào khoa trường rất sớm. Sau đó, đi dạy học (từ 1878 đến 1883) lần lượt ở các địa phương như: Duyên Hà (Thái Bình), Phù Cừ (Hưng Yên). GS sử học Đinh Xuân Lâm nhận xét hành động này là “lòng tôn trọng và gắn bó với “nghề thầy” cao quý, đồng thời cũng cho thấy sự lạnh nhạt của ông đối với quan trường”[61; tr.

Có lẽ “giáo nghiệp” đã như một thứ trời định cho Đào Nguyên Phổ. Trước sau trong cuộc đời, Đào Nguyên Phổ đã có tám năm 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com làm thầy đồ dạy học tại gia và chín tháng làm thầy giáo ở Đông Kinh Nghĩa Thục. Ngoài ra Đào Nguyên Phổ còn có thời gian dài tới sáu năm (1884 đến 1890) làm giáo thụ: vừa làm quan quản lý việc học hành (học quan), lại vừa làm thầy trực tiếp ở Tam Nông, Hưng Hoá. Vậy là Đào Nguyên Phổ đã cống hiến gần một phần tư đời mình cho công tác giáo dục của đất nước, mặc dù ở mảng giáo dục, ông chưa được đề cao như các mảng hoạt động khác.

Nhưng như đã biết, thời đại nào cũng vậy giáo dục cũng là một hoạt động, một lĩnh vực hết sức quan trọng để dạy thế hệ trẻ biết kiến thức, biết kỹ năng để sống, làm người. Giáo dục dạy con người đạo lý ở đời, biết yêu chính nghĩa, lẽ phải, yêu quê hương đất nước; biết ghét những điều sai trái, biết đấu tranh để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chính nghĩa. Giáo dục góp phần không nhỏ định hướng tư duy con người. Năm 1883, 1884 triều đình lần lượt ký với Pháp hai hòa ước mà thực chất là hàng ước, đó là hòa ước Quý Mùi và Giáp Thân (hay còn gọi là điều ước Hăcmăng và điều ước Patơnôt).

Hai hàng ước này đã đánh dấu sự bất lực của triều đình Huế trước sức mạnh của kẻ thù. Kẻ thù hoàn toàn xa lạ, hơn ta về mọi mặt: vũ khí, phương tiện, kỹ thuật và trên hết là hơn ta cả một phương thức sản xuất. Đây cũng là thời điểm mà Đào Nguyên Phổ chính thức bước vào nghiệp quan trường đầy sóng gió (1884). Cả triều đình hàng giặc, vị huyện quan trẻ tuổi Đào Nguyên Phổ còn làm gì được nữa trong cương vị của mình! Ông rơi vào tâm trạng chán chường và tham gia vào các sự kiện văn học, văn hoá văn nghệ nhiều hơn là tham chính.

Hai bản dịch “Tiền Xích Bích phú” của Tô Đông Pha và khoảng 500 bài thơ thù tạc, ký thác tâm sự bài hát ca trù đã ra đời trong thời gian ông làm quan ở vùng đất Kinh Bắc nhiều truyền thống văn hoá này. Ngoài việc tích cực, nhiệt tình tham gia những hoạt động văn hoá thì những sự kiện, những nhân vật, thủ lĩnh yêu nước ở những địa phương lân cận cũng có ảnh hưởng, tác động không nhỏ tới Đào Nguyên 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đó là tấm gương sáng về nhân cách của người tri thức yêu nước Nguyễn Quang Bích - người đồng hương với Đào Nguyên Phổ. Nguyễn Quang Bích là Hiệp Thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần, quan tổng đốc, Hoàng giáp tiến sĩ, dựng cờ cứu nước được hơn mười năm, gây dựng được căn cứ vững mạnh ở một vùng phía Bắc nhưng vì sống lâu trong điều kiện thiếu thốn của rừng thiêng nước độc nên qua đời.

Đó còn là Hoàng Hoa Thám, một thủ lĩnh xuất sắc trong cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế đang khiến cho thực dân Pháp phải kiêng dè. Doanh trại của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám nằm ở huyện Yên Thế, phủ Lạng Giang, tiếp giáp với huyện Võ Giàng thuộc phủ Từ Sơn - nơi Đào Nguyên Phổ đang làm tri huyện nên Đào Nguyên Phổ không chỉ nghe đến danh tính lẫy lừng của con hùm xám Yên Thế mà còn có quan hệ đi lại với Đề Thám. Về Đề Thám, một viên chức của Pháp đã có nhận xét rất trân trọng như sau: “Tên tuổi của Đề Thám đã trở thành như một biểu tượng rất được trân trọng để liên kết tất cả những người bất mãn. Xung quanh tên tuổi của Đề Thám đã hình thành một huyền thoại về chủ nghĩa anh hùng, về tài năng của một chiến binh đối với người An Nam, đó là vị thủ lĩnh bách chiến bách thắng”.

Vị tri huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh ngồi chưa nóng chỗ thì đã phải rời bỏ ghế quan huyện. Năm 1891, trên địa bàn huyện Võ Giàng nơi Đào Nguyên Phổ đang cai quản xảy ra vụ mất tiền thuế của huyện, gần một nửa số tiền thuế không cánh mà bay. Và tất nhiên trách nhiệm thuộc về Đào Nguyên Phổ chứ không phải ai khác. Khi đó, vị huynh trưởng Đào Thế Mỹ (người anh đỗ cùng khoa thi với Đào Nguyên Phổ năm 1778) cũng đang làm quan tri huyện ở Hải Dương xin chuyển về Võ Giàng gánh vác trách nhiệm thay em, lo lót, chạy tội giúp em.

Sau cùng, Đào Nguyên Phổ đã “hạ cánh an toàn”, chỉ bị bãi chức mà không bị ngồi tù. Về sự việc để mất tiền thuế này có nhiều ý kiến khác nhau. Những ý kiến này cơ hồ trái ngược nhau hoàn toàn. Luồng ý 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kiến tích cực thì cho rằng quan tri huyện Đào Nguyên Phổ đã ngầm mang tiền thuế để giúp đỡ nghĩa quân Đề Thám.

Có một số tư liệu cho rằng vị tri huyện Võ Giàng này có quan hệ đi lại với Hoàng Hoa Thám, sau này trở thành hùm xám Yên Thế, nhiều phen khiến giặc Pháp lo sợ, phải tìm cách thu phục, diệt trừ. Luồng ý kiến bên kia (tiêu cực) thì cho rằng vì nghiện thuốc phiện nên Đào Nguyên Phổ đã biến tiền thuế của huyện tan thành mây khói. Tác giả của “Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào Duy tân đầu tiên ở Việt Nam” đã đề cập đến chuyện Đào Nguyên Phổ hối hận vì đã từng sống phóng túng, hưởng lạc, buông thả. Đào Nguyên Phổ đã “trăn trối” với Lương Văn Can như sau: “Tôi chỉ vì lúc nhỏ đậu sớm nên đâm ra chơi bời hút xách, rượu chè đủ tật.

Cổ nhân nói “Thiếu niên cao khoa nhất bất hạnh dã” thật đúng vậy”. Nhà nho hành đạo Đào Văn Mại lại bước sang con đường ẩn dật bất đắc dĩ, lại làm một thầy đồ giống như trước khi ra làm quan. Nhưng lần thứ hai làm thầy đồ này của Đào Văn Mại có nhiều nét khác lần trước. Đã đi khá nhiều địa phương thuộc đồng bằng sông Hồng và trung du miền núi phía Bắc, tình hình thời cuộc đất nước không khỏi khiến cho Đào Văn Mại lưu tâm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ