Chương 1 THỰC CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO ĐẾN PHÁT TRIỂN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA HỌC VIÊN ĐÀO TẠO SĨ QUAN CẤP PHÂN ĐỘI Ở HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ 1. Thực chất ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Phật giáo đến phát triển đạo đức cách mạng của học viên đạo tạo sĩ quan cấp phân đội ở Học viện Khoa học Quân sự 1. Tư tưởng của đạo đức Phật giáo và sự dung hợp, ảnh hưởng của nó đến đời sống đạo đức xã hội Việt Nam Khái lược về tư tưởng đạo đức Phật giáo Theo truyền thuyết, người sáng lập ra Phật giáo là Thái tử Cồ Đàm - Tất Đạt Đa sinh năm 563 trước công nguyên, con vua Tịnh Phạn thuộc bộ tộc Thích Ca (Sa Kya), trị vì một vương quốc nhỏ là Ca-tỳ-la-vệ ở trung lưu sông hằng, bao gồm một phần phía Nam Nê-pan và một phần các bang Ut-ta-rơ, Pra-đe-zơ, Bi he của Ấn Độ ngày nay. Từ nhỏ, thái tử luôn là người thông minh và tính đức độ.
Mặc dù, vua cha hết lòng hướng thái tử theo con đường triều chính, song với lòng thương người vô hạn, không thể ngồi yên nhìn thấy sự khổ đau của chúng sinh, thái tử đã luôn nghĩ đến con đường cứu khổ cho dân chúng. Hai mươi chín tuổi Tất Đạt Đa xuất gia. Sau nhiều năm tu hành khổ hạnh không thành, Tất Đạt Đa xuất gia lần 2, đã tới ngồi thiền dưới gốc cây Bồ đề (Tất-bát-đa) và 49 ngày sau Tất Đạt Đa đạt chính quả thành Phật, hiệu là Phật Thích Ca Mầu Ni (Cakya Muni). Sau khi đắc đạo, suốt 49 năm (có sách ghi 45 năm) Đức Phật chu du khắp các lưu vực sông Hằng, đem đạo vô thường của mình giáo hoá chúng sinh, không phân biệt già trẻ, giàu nghèo, nam nữ, màu da.
Nhờ lòng từ bi, đức hy sinh rộng lớn, những bài giảng của Đức Phật đã hoá độ vô số quần sinh, thoát vòng mê mờ, khổ não. 14 Sau khi Đức Phật Niết bàn, Ngài MaHaCaDiếp (Mahakasypa) thay mặt tăng chúng, triệu tập hội nghị Phật giáo với khoảng 500 đệ tử của Phật, để tụng đọc những giáo lý của Đức Phật. Hội nghị này được mệnh danh là “kỳ tập kết thứ nhất”. “Kỳ tập kết thứ hai” đã chia làm hai phái rõ rệt, một phái họp ở Vaijji và một phái họp ở Vaixaly.
“Kỳ tập kết thứ ba” và “Kỳ tập kết thứ tư” đã họp bàn và kết tập các tác phẩm kinh điển của Phật giáo và đề ra các giáo luật của Phật giáo. Kinh điển của Phật giáo được viết bằng hai thứ văn bản, Phạn và Pali. Những vùng nào có kinh điển Pali thì gọi là Nam Phương Phật giáo. Còn những vùng nào theo kinh điển chữ Phạn được gọi là Bắc Phương Phật giáo.
Nam Phương Phật giáo và Bắc Phương Phật giáo đều thờ chung đấng giáo chủ là Phật Thích Ca Mâu Ni. Những tư tưởng cơ bản của Phật giáo phản kháng xã hội Ấn Độ phân chia đẳng cấp ngặt nghèo. Đó là: Balamôn gồm những tăng lữ, những người giữ quyền thống trị tinh thần, phụ trách về lễ nghi, cúng bái. Sát-đế-ly là hàng vua chúa võ sĩ nắm quyền hành thống trị xã hội.
Vệ-xá là những hàng thương gia, chủ điền đảm đương về kinh tế trong nông nghiệp, dân tự do. Thủ-Đà-La là hạng hạ tiện, nô lệ chịu cảnh khổ sai suốt đời cho những giai cấp trên. Ngoài bốn đẳng cấp trên, xã hội Ấn Độ còn có một hạng người thuộc đẳng cấp thấp nhất bị các giai cấp trên đối xử như những công cụ lao động. Kinh điển của Phật giáo gồm: Kinh Tạng, Luật Tạng, Luận Tạng.
Kinh Tạng, bao gồm những bài thuyết giảng mà đức Phật dùng để răn dạy trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, dành cho cả hai giới xuất gia và cư sĩ. Luật Tạng, nói về giới luật và nghi lễ trong đời sống xuất gia của các Tỳ khưu (nam) và các Tỳ khưu ni (nữ), Luật Tạng mô tả các nghi lễ sám hối dành cho các tăng sĩ và nêu ra lý do mà đức Phật đặt ra các giới luật. Luận Tạng là luận bàn, chú giải của các học giả, cao tăng sau này bàn về kinh, luật của Phật. Các giáo lý của Đức Phật được thâu tóm trong học thuyết “Tứ diệu Đế”.
“Tứ diệu Đế” là bốn sự thật chắc chắn, quý báu, hoàn toàn nhất, không 15 có giáo lý ngoại đạo nào sánh kịp. Bốn sự thật mà Phật nêu ra (Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế, Đạo Đế) giúp người tu hành đi từ tăm tối đến vùng sáng, giác ngộ thành chính quả. Vì “Tứ diệu Đế” là một trong những giáo lý quan trọng của Phật giáo, cho nên các Phật tử muốn thành chính quả phải học và thực hành pháp “Tứ diệu Đế”. “Tứ diệu Đế” là bốn chân lý có giá trị bất biến, có thể áp dụng cho mọi người và mọi thời.
Trong đó, Khổ Đế và Tập Đế thuộc về thế gian, Diệt Đế, Đạo Đế có khả năng đưa con người ra khỏi thế gian đau khổ. Toàn bộ giáo lý của Phật giáo chủ yếu nhằm mục đích vào con người, giải thoát con người, chứ không phải giải thoát cho linh hồn như một số tôn giáo khác. Quan điểm này được Phật tuyên bố với A-tu-lu (Asùrà) Pahàràda, được coi như là lời tuyên bố chung, đồng thời như là một tông chỉ: “Ví như này, Pahàràda, nước biển chỉ chỉ có một vị mặn. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật này cũng chỉ có một vị là vị giải thoát” [10, tr.
Trong giáo lý Phật giáo, vị trí của đạo đức là quan trọng nhất, bởi vì nó là phẩm phương tiện cụ thể để hành giả thực sự thoát khỏi tất cả mọi thứ ràng buộc, nói chung là thoát khỏi cái khổ. Do vậy, dù có một hệ thống giáo lý đồ sộ, cao siêu, phong phú, nhưng Phật giáo lại không ưa hý luận, không dừng lại ở lý thuyết, mà sự mong mỏi, thôi thúc lớn nhất là hành giả cần thực hành nó để tự giải thoát. Từ đặc tính của luật vô thường như vậy, nên trong phẩm “Song yếu”, Phật đã chỉ rõ: “Người kia không hiểu rằng: “Chúng ta sắp bị huỷ diệt (nên mới phí sức tranh luận hơn thua). Nếu họ hiểu rõ điều đó, thì chẳng còn tranh luận nữa” [18, tr.
Cũng từ lý do đó, trong phẩm “Cấu uế”, Phật đã dùng nó để quở trách những người sống buông lung, thiếu tư cách đạo đức. Phật nói: “Đời ngươi nay sắp lụi tàn, ngươi đang dịch bước đến gần Diêm- vương, giữa đường không nơi ngơi nghỉ, lữ hồ ngươi thiếu hẳn tư lương” [18, tr. 16 Từ tinh thần trên, trong kinh “Aggivacchotta”, Phật cũng không bàn dài dòng về 10 câu hỏi thuộc những vấn đề siêu hình, hý luận, như sinh mạng hai hay một, thế giới vô thường, vô biên hay hữu thường có hạn. của du sĩ Vacchagotta.
Theo Phật, cái đó mỗi người phải tu tập, thực nghiệm để đạt đến thực tại vô ngã mà tự chứng ngộ lấy. Mặt khác, ngay quan niệm của triết thuyết và tôn giáo ấn Độ đều coi giáo lý là một đạo sống, là một con đường, mà khách lữ hành là con người cụ thể tha thiết sống chết với lý tưởng ấy, lấy bản thân mình làm vật thí nghiệm để thực hiện nó trong cuộc đời. Phật giáo cho rằng, sở dĩ có luân hồi là do dục vọng (tham, sân, si); có dục vọng là do lầm lạc, vô minh mà tạo nghiệp chướng cho các chúng sinh mà có. Bởi đạo đức, lối sống xuất phát từ nghiệp mà ra.
Nếu chúng ta tạo nghiệp tốt, tức là chúng ta sống thiện, mọi cử chỉ, hành vi, suy nghĩ đều thiện, thì kết quả chúng ta nhận được sẽ là một cuộc sống tốt đẹp, bình yên, an vui. Ngược lại, nếu ta tạo nghiệp ác, ắt sẽ lãnh quả báo. Cho nên, đạo đức Phật giáo chủ trương tiết dục (cấm dục). Bởi vì, nếu vén được cái màn sương dục vọng ấy thì tâm Phật trong mỗi con người sẽ được khai mở, toả sáng và con người sẽ sống tốt đẹp hơn, cho nên muốn giải thoát tất phải diệt nghiệp bằng sự sáng suốt, phá lầm lạc bằng cấm dục.
Những tư tưởng cơ bản của đạo đức Phật giáo thể hiện trong Tứ vô lượng tâm bao gồm bốn tâm vô lượng từ, bi, hỉ, xả; trong thuyết Nghiệp, mục đích thiết thực và trước mắt của thuyết Nghiệp là Phật giáo mong muốn ai cũng phải làm điều thiện, tránh điều ác và thuyết Nghiệp đánh giá đạo đức của hành động, đồng thời cũng cho thấy sự nghiêm khắc của luật nhân quả. Do vậy, thuyết Nghiệp của Phật giáo liên quan trực tiếp đến hệ thống đạo đức cũng như các chuẩn mực, hành vi của đạo đức Phật giáo. Tư tưởng đạo đức Phật giáo còn thể hiện trong tư tưởng “Vô ngã vị tha”; tính thiện, tinh thần bi, 17 trí, dũng, công bằng, bình đẳng và lòng khoan dung, độ lượng; ở Ngũ giới, Thập thiện, Lục hoà. Như vậy, Phật giáo đã xây dựng một hệ thống đạo đức hoàn chỉnh từ nhận thức, lý luận đến thực hành, áp dụng nó để con người xây dựng cho mình một nếp sống.
Phật giáo đã xây dựng mẫu người đạo đức, đó là con người từ, bi, xả, vô ngã, vị tha mà thâu tóm là đứng vững trên hai chân: từ bi và trí tuệ - cả trái tim và khối óc. Từ đó, lý tưởng Bồ Tát đạo đã vượt khỏi phạm vi giải thoát của cá nhân để trở thành giải thoát chung, cứu độ chúng sinh cùng giải thoát. Sự dung hợp, ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Phật giáo với đời sống đạo đức xã hội và con người Việt Nam Khoảng mấy nghìn năm về trước, người Việt Nam với tính chất là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, nên đã sớm định canh định cư, đồng thời ngay từ đầu đã hình thành tư tưởng thích tự do và độc lập. Từ thực tiễn của lịch sử, người Việt Nam sớm có tinh thần yêu hoà bình, yêu nước, tự do, bình đẳng và giầu lòng nhân nghĩa.
Phật giáo với tính thiện, bình đẳng, bác ái bao la, nêu cao ngọn cờ hoà bình với tinh thần cứu khổ, cứu nạn, nên đã sớm thấm sâu vào lòng đại chúng Việt Nam. Phật giáo đã sống thuỷ chung với dân tộc Việt Nam qua những bước thăng trầm của lịch sử, dung hợp với tín ngưỡng, phong tục tập quán bản địa để trở thành Phật giáo Việt Nam và tồn tại cho đến ngày nay. Trước và trong khi Phật giáo du nhập, ở Việt Nam đã có nhiều tín ngưỡng, đồng thời đã có những tư tưởng triết học. Những tín ngưỡng liên quan nhiều đến Phật giáo như tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ thần tiên, tín ngưỡng thờ tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu.