Chương 1 MỆNH LỆNH TUYỆT ĐỐI TRONG HỆ THỐNG CÁC PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC I. Khái quát chung những phạm trù cơ bản của đạo đức học I.Cantơ về ''Mệnh lệnh tuyệt đối'' là nội dung cơ bản của đạo đức học Cantơ, được trình bày rõ trong hai tác phẩm chính là: 'Những cơ sở của siêu hình học đạo đức'' (1785), và ''Phê phán lý tính thực tiễn'' (1788). Còn tác phẩm lớn thứ ba: ''Siêu hình học đạo đức'' (1797) lại mang đậm tính thực tiễn, trong đó những cấu trúc hình thức của ''mệnh lệnh tuyệt đối'' chứa đầy những nội dung đạo đức cụ thể. Cả ba tác phẩm nêu trên đều thuộc về giai đoạn phê phán trong sự nghiệp sáng tạo của I.
Ngoài ra, một loạt những công trình khác, như : ''Tôn giáo chỉ trong giới hạn của lý tính"; ''Hướng tới thế giới vĩnh hằng''; ''Về câu thành ngữ: có thể đúng trong lý thuyết nhưng không phù hợp với thực tế'', v., định hướng vào việc xác định ảnh hưởng của bổn phận đạo đức mang tính tất yếu đến cách đặt ra và giải quyết những vấn đề tôn giáo, chính trị, luật quốc tế, v. Cantơ gọi ''mệnh lệnh tuyệt đối'' là nguyên tắc tối cao của đạo đức. Việc đưa ra, giải thích và chứng minh nguyên tắc này giữ vị trí trung tâm trong đạo đức học của ông.Cantơ, ''mệnh lệnh tuyệt đối'' cần phải được sử dụng làm nền tảng cho toàn bộ học thuyết đạo đức, tức nó phải trở thành một luận điểm đưa ra chìa khóa cho việc giải quyết những vấn đề cơ bản của đạo đức học. Đó là: Thứ nhất, làm rõ nội dung của đạo đức (làm rõ sự khác biệt giữa những hiện tượng đạo đức và những hiện tượng nằm ngoài đạo đức); Thứ hai, giải thích đạo đức (xác định nguồn gốc và phương thức tác động của đạo đức); TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ ba, hình thành tiêu chuẩn đánh giá đạo đức, nhận biết cái đạo đức và cái vô đạo đức; Thứ tư, xác định mục đích của giáo dục đạo đức, v.
Nguyên tắc tối cao này đảm bảo sự thống nhất và tính có hệ thống cho học thuyết đạo đức Nội dung của ''mệnh lệnh tuyệt đối'' được vạch ra thông qua một hệ thống các phạm trù xác định. Vì một trong những nhiệm vụ chính của nguyên tắc đạo đức tối cao này là giải thích đạo đức, nên các phạm trù lý giải nội dung của nguyên tắc này cũng đồng thời là những bậc thang trong việc xác định khái niệm về đạo đức. Nhờ có chúng mà toàn bộ các quan niệm về đạo đức sẽ mang tính lôgíc và có trình tự, vì vậy có thể coi những phạm trù mà I.Cantơ sử dụng là các giai đoạn vận động từ khách thể của học thuyết đạo đức đến đối tượng của nó. Khách thể của học thuyết đạo đức Cantơ chính là luân lý (đạo lý) của con người.
Tuy nhiên, điều đó vẫn chưa chỉ ra được tính chất đặc thù của cách tiếp cận Cantơ với luân lý. Tính đặc thù đó được sinh ra từ những đặc điểm của phương pháp Cantơ: phương pháp tiên nghiệm (biến ý thức thành đối tượng cơ bản và về thực chất là duy nhất của sự phân tích triết học; coi các hình thức và cấu trúc của ý thức là có ý nghĩa phổ biến và tất yếu). Việc áp dụng phương pháp này giả định trước hết phải chuyển trọng tâm từ chức năng hành động của đạo đức sang những điều kiện để có đạo đức, và theo Cantơ, những điều kiện đó được bắt nguồn từ bản thân chủ thể, từ những năng lực đặc biệt của tâm hồn chủ thể. Hướng nghiên cứu chung đó về đạo đức là kết quả của những định hướng nhận thức luận mà, như Cantơ hy vọng, sẽ tạo nên ''một cuộc cách mạng Côpecních'' trong triết học.Cantơ, những mối quan hệ đạo đức hiện thực, những qui tắc đạo đức hiện thực là không quan trọng.
Ông chỉ quan tâm tới vấn đề nguồn gốc và bản chất của chúng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ ba năng lực cơ bản của tâm hồn- năng lực nhận thức, cảm giác thỏa mãn và không thỏa mãn và năng lực mong muốn, thì đạo đức thuộc về năng lực thứ ba. ''Năng lực mong muốn'' được Cantơ định nghĩa là: '' Năng lực của thực thể thông qua những biểu tượng của mình để trở thành nguyên nhân tạo ra tính hiện thực cho các đối tượng của những biểu tượng ấy'' [23, 4, I, tr. Gắn đạo đức với ''năng lực mong muốn'', I.Cantơ nhấn mạnh tính tích cực thực tiễn của đạo đức.
Thực ra thì trong đạo đức học Cantơ, năng lực này không liên quan tới những cái có sẵn. Không thể có sự mong muốn những cái đã có sẵn mà phải là sự hướng tới những cái chưa có. Các đối tượng của ''năng lực mong muốn'' có thể là:vật, trạng thái, hành vi.Nếu đối tượng có sẵn cho ''năng lực mong muốn'' là không có, lúc đó sẽ xuất hiện vấn đề: vậy những biểu tượng về các đối tượng mang tính khả năng này nảy sinh từ đâu, và năng lực tâm lý nào tạo nên những biểu tượng đó? Vấn đề ở đây thực ra là bàn về cấu trúc của ''năng lực mong muốn'' Theo Cantơ, năng lực này hoạt động trong mối quan hệ với những năng lực tâm thần khác và không thể thiếu sự tham gia của chúng. Như vậy, nguồn gốc của những biểu tượng về ''năng lực mong muốn'' và cơ sở tạo ra tính tất yếu của chúng nằm trong bản thân chủ thể, trong những năng lực tâm thần khác của nó.
Cantơ cho rằng, tất cả các biểu tượng của chúng ta chỉ có hai nguồn gốc: hoặc cảm tính, hoặc lý tính. Chúng bao hàm một sức mạnh mang tính cưỡng chế của các biểu tượng. Nguồn gốc cảm tính đem lại cho chúng ta khái niệm ''thiên hướng'' mà I .Cantơ đã định nghĩa là: ''Sự lệ thuộc của năng lực mong muốn vào cảm giác gọi là thiên hướng''[23, 4, I, tr. 251] Trong định nghĩa này, cần phải làm sáng tỏ: sự lệ thuộc đó là gì? Và theo nghĩa nào thì cảm tính là nguồn gốc của các biểu tượng? Theo I.Cantơ thì sự lệ thuộc của ''năng lực mong muốn'' vào cảm giác không có nghĩa là sự mong muốn hoàn toàn do những biểu tượng cảm tính sinh ra một cách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trực tiếp.
Điều đó chỉ đúng đối với động vật. Đối với thiên hướng con người thì cái có ý nghĩa mang tính nguyên tắc là loại tình cảm bao hàm một sức mạnh mang tính cưỡng chế của các biểu tượng. Vậy biểu tượng sinh ra từ đâu? Có nguồn gốc là vật tự thân nó hay được sinh ra từ lý tính và năng lực tưởng tượng? Cantơ coi vấn đề này là không quan trọng. Ông viết: ''Sự thỏa mãn do biểu tượng về sự tồn tại của vật đem lại là dựa trên khả năng lĩnh hội của chủ thể, vì sự thỏa mãn này phụ thuộc vào sự tồn tại của đối tượng.
Do vậy, biểu tượng có quan hệ với cảm tính chứ không phải với lý trí, là cái biểu thị mối quan hệ của biểu tượng với khách thể một cách phù hợp với khái niệm, chứ không phải quan hệ với chủ thể một cách phù hợp với tình cảm. Như vậy, biểu tượng chỉ mang tính thiết thực khi cảm giác khoan khoái mà chủ thể chờ đợi ở một đối tượng hiện thực quy định năng lực mong muốn''[23, 4, I, tr. Tuy nhiên, ''thiên hướng'' là một loại năng lực mong muốn và I.Cantơ gọi nó là năng lực mong muốn thấp nhất. Trong phạm vi tác động của thiên hướng vẫn chưa hề có đạo đức, và việc tìm kiếm đạo đức ở đây là một việc làm vô ích.
Bước tiến này của I .Cantơ đã quy định tính đặc thù của học thuyết đạo đức của ông. Cơ sở của đạo đức không thể là ''thiên hướng'' và ''sự thỏa mãn'' như nhiều nhà đạo đức học đã đưa ra. Để tìm kiếm đạo đức, cần chú ý tới một nguồn gốc khác của các biểu tượng về năng lực mong muốn là lý tính. Như vậy, sự nghiên cứu của I.Cantơ chuyển sang một trình độ mới, trình độ lý tính thực tiễn.
''Lý tính thực tiễn'' là lý tính thực tiễn bởi lẽ những sản phẩm của nó có sức mạnh mang tính cưỡng chế, chúng đòi hỏi sự hiện thực hóa bản thân. ''Lý tính thực tiễn'' ở Cantơ là lý tính lập pháp, nghĩa là tạo nên những nguyên lý và những nguyên tắc của hành vi đạo đức. ''Lý tính thực tiễn'' chuyển thành ''ý chí'', ''ý chí'' đó tiến hành sự lựa chọn, qui định hoạt động của cá nhân theo thước đo đạo đức của cá nhân đó. Vậy là, lý tính đem lại khái niệm quan trọng trong đạo đức học Cantơ: khái niệm ''ý chí''.
Ông chỉ rõ: ''Năng lực mong muốn mà cơ sở quyết định bên trong của nó, và do đó, bản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thân sự phát hiện ra nó là nằm trong lý tính của chủ thể, được gọi là ý chí''[23, 4, II, tr. Như vậy, ''ý chí'' của con người không phải được qui định bởi các nguyên nhân bên ngoài, tức là những nguyên nhân thuộc về tính tất yếu của giới tự nhiên, hoặc là những nguyên nhân thuộc về Thượng đế. ''Ý chí'' con người được qui định bởi những qui luật, luật lệ riêng vốn có của nó. Đó là những qui luật, luật lệ mà ''ý chí'' tự đặt ra cho bản thân mình.
Từ đó chúng ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của chủ nghĩa tiên nghiệm Cantơ đến đạo đức học của ông. Vấn đề là ở chỗ, trong đạo đức học, Cantơ chỉ quan tâm tới vai trò của những nhân tố ý chí quy định hành vi đạo đức và các căn cứ tinh thần của ý chí đạo đức, mà xét đến cùng, là do ý thức đạo đức tiên nghiệm quy định. Đây vừa là điểm mạnh vừa là điểm yếu của đạo đức học Cantơ. Là ưu điểm vì Cantơ nhấn mạnh phương diện giáo dục truyền thống văn hóa nhân văn trong quá trình hình thành phẩm chất, ý thức đạo đức của cá nhân, trách nhiệm đạo đức của cá nhân về sự lựa chọn hành vi đạo đức.
Là khuyết điểm vì Cantơ đã bỏ qua các nhân tố xã hội khác. Khi phân tích những cơ sở quyết định của ý chí, I.Cantơ đi đến kết luận rằng chúng có hai loại: cơ sở quyết định khách quan và cơ sở quyết định chủ quan. Tính khách quan được hiểu như là vật tự thân nó và như là chức năng của lý tính làm cho nhận thức kinh nghiệm trở thành cái có thể, và đơn giản là nội dung mang tính tất yếu, phổ biến của các biểu tượng ở chúng ta. Quan niệm của I .