Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN CHUYÊN NGÀNH NGOẠI NGỮ TRONG CÁC NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu của đề tài là các công trình nghiên cứu về hoạt động học tập, HĐTH, quản lý HĐTH nói chung và tự học của sinh viên, HV chuyên ngành ngoại ngữ nói riêng. Vì thế, để nghiên cứu, giải quyết các nhiệm vụ của đề tài, tác giả lược sử một số công trình nghiên cứu tiêu biểu ở nước ngoài, trong nước và trong quân đội có liên quan. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về tự học, hoạt động tự học và quản lý hoạt động tự học trên thế giới Tự học có vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp quyết định việc chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ xảo, kỹ năng, năng lực hoạt động và các phẩm chất nhậ cách của con người.
Vì thế, ngay từ thời cổ đại các nhà hiền triết, nhà giáo dục lỗi lạc thời bấy giờ như: Hêraclit, Sôcrat, Platon, Aristote, Khổng Tử, Mạnh Tử. đã nêu lên những quan điểm, tư tưởng có giá trị rất sâu sắc về tự học, vai trò của tự học và đến nay những tư tưởng đó vẫn còn nguyên giá trị. Hêraclit (535- 475) cho rằng: giáo dục, dạy học không phải là rót kiến thức vào đầu người học như người ta rót chất lỏng vào chai thông qua cái phiểu. Thực chất giáo dục là thắp lên ngọn đuốc để soi sáng, giúp người học nhận ra những con đường, tự mình chọn lấy một con đường, rồi tự bước đi trên con đường đã chọn, dưới ánh sáng của ngọn đuốc ấy.
Tức người học phải biết tự học, tự chủ, tự lực, tự giác đi trên con đường học tập của mình dưới sự điều khiển, soi sáng của người dạy; không có tự học, mọi tri thức được truyền thụ sẽ trở nên vô nghĩa. Sôcrát (470- 399) với châm ngôn nổi tiếng: “Hỡi con người, hãy tự biết mình” đã chỉ ra vai trò to lớn của việc phát huy nội lực trong học tập - muốn học tập tốt trước hết người học phải tự khám phá, tự hiểu biết bản thân, tự mình biết 8 chinh phục mình. Đó chính là quá trình tự học, tự rèn gian nan, vất vả. Từ đó, Ông đã đề ra phương pháp “đỡ đẻ tinh thần” trong dạy học.
Khổng Tử (551- 479 TCN) luôn nhấn mạnh và đề cao tính tích cực, tự chủ trong học tập của người học. Ông từng nói: vật có 4 góc, ta chỉ cho một góc, mà không biết suy ra 3 góc còn lại thì ta không dạy nữa. Điều đó, vừa thể hiện yêu cầu cao của người dạy, vừa đề cao vai trò đặc biệt quan trọng của HĐTH ở người học. Muốn học tập có kết quả người học phải tự mình nghiên cứu, tìm kiếm để nhận thức các vấn đề đặt ra dưới sự định hướng của người dạy.
Jan Amos Komensky (1592 - 1670) - Ông tổ của nền giáo dục cận đại khẳng định: “Dạy thanh, thiếu niên một cách đúng đắn không có nghĩa là cứ nhồi nhét vào đầu óc họ một mớ hỗn độn các từ, các câu, các quy tắc, châm ngôn, ý kiến thu thập được của mọi tác giả, mà trái lại là khêu gợi năng lực trí tuệ phát triển chẳng khác gì từ một nguồn đầy sức sống tỏa ra con suối của học thức”[5]. Như vậy, trong dạy học điều quan trọng nhất là người dạy phải định hướng, khêu gợi để phát triển khả năng tự học, tự nghiên cứu ở người học. Jean Rousscau (1712 - 1778) nhà giáo dục khai sáng đã tiếp nối và phát triển tư tưởng “giáo dục tự nhiên” của J. Komensky lên một tầm cao mới.
Ông cho rằng, quyền tự nhiên cao cả nhất, thiêng liêng nhất và quyền tối thượng của con người chính là được tự do; giáo dục theo tự nhiên có nghĩa là “giáo dục tự do”. Từ đó, Ông đề xướng học thuyết “lấy đứa trẻ làm trung tâm”. Tư tưởng đó, đến nay vẫn còn nguyên giá trị, đó là đề cao vai trò tự học, tự nghiên cứu, “lấy người học làm trung tâm”. Các nhà giáo dục học ở Đông Âu và Xô Viết (trước đây) đã dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đặc biệt là luận điểm nổi tiếng của V.
Lênin “Học, học nữa, học mãi” để nghiên cứu vấn đề tự học và vai trò của tự học đối với người học. Trong đó, nổi bật là các công trình của các tác giả tiêu biểu như: N.A Rubakin trong tác phẩm “Tự học thế nào”[45] đã nhấn mạnh vai trò của thái độ tích cực tự học trong chiếm lĩnh tri thức của sinh viên. Theo Ông, để tự học có kết quả thì: “việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản 9 để học sinh tích cực, chủ động trong tự học”[45, tr36]. Điều đó chứng tỏ, tác giả đã thấy rõ vai trò to lớn của yếu tố động cơ trong HĐTH của học sinh.
Tuy nhiên, để nâng cao kết quả tự học còn phái trính đến những nhân tố khác, nhưng phát hiện của N.A Rubakin là cơ sở quan trọng cần tính đến trong nghiên cứu về quản lý HĐTH của học sinh, sinh viên. Trong tác phẩm “Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào?, Tác giả I. Kharlamôv [22] đã đi sâu nghiên cứu, chỉ ra nhiều vấn đề liên quan đến tính tích cực học tập và những cách thức cơ bản để phát huy tính tích cực của học sinh. Trong đó, khẳng định: “Tự học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tính tích cực nhận thức và hiệu quả hoạt động trí tuệ của học sinh” [22,tr65].
Lêvitôp [27] đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc tâm lý của sự lĩnh hội và chỉ ra, các thành phần tâm lý của sự lĩnh hội bao gồm: thái độ tích cực của người học đối với tự học; các quá trình tìm hiểu tài liệu một cách trực tiếp và cảm tính; quá trình tư duy với tư cách là quá trình cải biến tài liệu; quá trình ghi nhớ, bảo tồn thông tin…Theo đó, thái độ tích cực đối với HĐTH của người học đóng vai trò quan trọng hàng đầu quy định chất lượng, hiệu quả hoạt động lĩnh hội của người học. Ôkôn đi sâu nghiên cứu về các kỹ năng bảo đảm hiệu quả HĐTH. Trong tác phẩm, Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề [42], tác giả V. Ôkôn đã chỉ ra, để tự học có hiệu quả đòi hỏi người học phải biết kế hoạch hóa, tức là phải có kế hoạch tự học.
Thông qua kế hoạch tự học, giúp người học chủ động trong hoạt động và thể hiện tác phong khoa học trong tự học của bản thân. Trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo”, nhà sư phạm nổi tiếng Nhật Bản, Tsunesaburo Makiguchi đã phê phán lối dạy chuyển giao tri thức và lối học thu động ở Nhật và cho rằng, nhiệm vụ của giáo dục là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng. Do đó, nhiệm vụ trước hết của giáo viên là hướng dẫn học tập. Đồng thời, chỉ ra “Quá trình hướng dẫn tự học của người học, giáo viên cần rời bỏ việc truyền đạt tri thức sách vở để đóng vai trò hỗ trợ cho người học trong việc tự nghiên cứu, tự 10 học, tự quản lý chính mình”[29, tr.
Ông cũng chỉ ra những yêu cầu cơ bản của người dạy trong quá trình hướng dẫn và định hướng HĐTH của học sinh.GaryKnowles thuộc Viện nghiên cứu Giáo dục Ontario thuộc Đại học Toronto (Canada) trong một Báo cáo trình bày tại Hội ngị quốc tế về “Self-study in teacher Education: Empowering ourFuture” [1] tạm dịch là “Tự học của giáo viên - tương lai của chúng ta” đã cho rằng: yêu cầu tối thượng với giáo viên, dù giảng dạy ở bất cứ môi trường nào thì năng lực thực tiễn rất quan trọng, kiến thức của giáo viên phải phong phú, xử lý tốt được các tình huống sư phạm nảy sinh; giáo viên phải định hướng được cho học sinh biết tự học và tự nghiên cứu. Để làm được điều đó, giáo viên phải không ngừng nỗ lực tự học, tự giáo dục, tự nghiên cứu trong thực tiễn. Một trong những biện pháp đó là phải tăng cường các hoạt động giao lưu, ngoại khóa, tổng kết kinh nghiệm và học hỏi từ các nhà trường bạn [1,tr 4]. Điều đó khẳng định, tự học là nhân tố trực tiếp quyết định kết quả học tập và thực hành nghề nghiệp của sinh viên đang học tập để trở thành người giáo viên tương lai.
Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra cách thức nâng cao hiệu quả HĐTH là tăng cường hoạt động giao lưu, ngoại khóa, tổng kết kinh nghiệm. Trong tác phẩm, “Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường” [43] tác giả Xviơ Rôgiơ đã tập trung làm rõ cách thức chiếm lĩnh tri thức của người học. Theo Ông, nhà trường muốn phát triển năng lực ở người học thì: “Nhà trường không thể tiếp tục có chức năng ưu tiên là truyền đạt kiến thức và thông tin, mà phải giúp học sinh có khả năng tìm thông tin, quản lý thông tin và tổ chức các kiến thức” [43, tr10]. Nói cách khác, muốn phát triển năng lực ở người học nhà trường phải coi trọng việc bồi dưỡng phương pháp tự học cho người học.
Trong công trình nghiên cứu về “Nền giáo dục cho thế kỷ XXI, những triển vọng châu Á - Thái Bình Dương”, Tác giả Raisa Roysinh cho rằng: mục đích của giáo dục là đào tạo ra những con người “hiếu học và một xã hội học tập thường xuyên”. Ông nhấn mạnh và đề cao vai trò tự học, tự tìm tòi phương pháp 11 học tập của người học. Ông cho rằng, người học vừa là chủ thể, vừa là mục đích cuối cùng của quá trình giáo dục, sự học tập là do người học tự chỉ đạo, xây dựng cho mình kế hoạch tự giáo dục, tự học, tự rèn luyện. Điều đó, khẳng định tự học là nhân tố trực tiếp quyết định chất lượng học tập của người học.
Như vậy, đã có nhiều nhà tư tưởng, nhà giáo dục học, tâm lý học trên thế giới nghiên cứu về HĐTH của học sinh, sinh viên. Các công trình nghiên cứu đều đánh giá cao vai trò của HĐTH đối với việc nâng cao, mở rộng tri thức, hoàn thiện nhân cách của người học và nâng cao chất lượng đào tạo. Nhiều công trình đã chỉ ra khá toàn diện về quan niệm, vị trí, vai trò, cấu trúc tâm lý, các kỹ năng thực hiện HĐTH và những biện pháp tổ chức hoạt động dạy học nhằm nâng cao hiệu quả HĐTH của người học.