HỌC VIÊN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH KHOA TRIẾT HỌC A GIÁO TRÌNH DAO DUC HOC ( DUNG CHO HE CU NHAN CHÍNH TRỊ ) ÑJ NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA GIÁO TRÌNH ĐẠO ĐỨC HỌC HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH _ KHOA TRIẾT HỌC _ GIÁO TRÌNH DAO DUC HOC ( DÙNG CHO HỆ CỬ NHÂN CHÍNH TRỊ ) NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - Hà Nội - 2000 Tập thể tác giả: | GS. NGUYEN _NGỌC LONG (chủ biên) TS. NGUYEN THE KIET (bai 1, bài 5) -PGS. NGUYEN CHÍ MỲ (bai 2) TS.
NGUYEN THE KIBT va Th.S BUI CONG TRANG (bai 3) Th.S BUI CONG TRANG (bai 4) PGS. NGUYEN CHi MY va TS. NGUYEN THE KIET (bai 6) LỜI NHÀ XUẤT BẢN Đạo đức là một hình thái ý ' thức: xã hội, xuất hiện từ buổi bình minh của lịch suf loai người. Nó được hoàn thiện, phát triển trên co sé các chế độ kinh tế - xã.
hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao, đỉnh cao của nó là đạo đức mới - đạo đức cộng sản mà xã hội ta đang xây dựng. Vai trò động lực tỉnh thần to lớn (cua đạo: đức đối với sự phát triển, tiến bộ xã hội. được nhiều _ nhà khoa học hiện nay. thừa nhận và được các quốc gia quan tâm sâu sắc.
Ở nước ta, những nguyện tắc, quy tắc, chuẩn mực, phẩm chất đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội hiện thực đang tác động mạnh mẽ, thường xuyên đến các quan hệ ứng xử giữa người và người, cá nhân và xã hội, nhằm hướng con người tới cái chân, cái thiện, cái mỹ; chống cái ác, cái xấu, cái giả; đưa xã hội ta đạt mục tiêu cao cả: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Với ý nghĩa và vai trò, nhiệm vụ, chức năng quan trọng riêng có của nó, đạo đức học Mác-Lênin, một khoa học triết học đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và thế hệ trẻ nước ta say mê học tập. Từ lâu đã có nhiều giáo trình Đạo đức học được biên soạn, góp phần đáng kể cho phong trào bọc tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta. Trên cơ sở "vai trò làm nền và định hướng".
của bộ giáo trình quốc gia Triết học Mác - Lénin, tập thể tác giả dưới sự chỉ đạo của GS. triết học Nguyễn Ngọc Long, Khoa Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn tập giáo trình Đạo đức học Mác - Lénin (danh cho hệ cử nhân chính trị). ` Tập giáo trinh Dao đức học này. sẽ đem lại những tri thức khoa học cơ bản, có hệ thống và đổi mới rất bổ ích cho ban ‘doc, nhất là các học viên cử nhân chính trị của hệ trường Đảng.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến phê bình sách và trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc. si si Tháng 9 năm 2000 - ` NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRI QUOC GIA Bài 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA - ĐẠO DUC HOC MAC - LENIN I. ĐẠO ĐỨC VÀ CẤU TRÚC CỦA ĐẠO ĐỨC 1. Khái niệm đạo đức _- Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo.
đức học đã xuất hiện hơn -_ 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại. Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos (moris) - lễ thói (moralis nghĩa là có liên quan với lễ thói, đạo nghĩa). Còn "luân lý" được xem như đồng nghĩa với "đạo đức" có gốc từ tiếng Hy ` Lạp là ethicos - lề thói, tập tục. Khi nói đến đạo đức, tức là nói đến những lễ thói và tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày.
Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm: moral là đạo đức, còn ethicos là đạo đức học. Oo Phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại xuất hiện sớm, được biểu hiện trong quan niệm về đạo và đức của họ. Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại. Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên.
Đạo còn có nghĩa là đường sống của con người “trong xã hội. : Khái niệm đức lần đầu tiên xuất hiện trong Kim uăn đời nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Như vậy có thể nói đạo.
đức cua ngudi Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, _ những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra ma mỗi người phải tuân theo. l Ngày nay, dao đức. được định nghĩa nhữ sau:. là một hình.
xã: hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niễm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dự luận xã hội. ::¿Trong định nghĩa này có mấy điểm cần chú ý sau: es ¬- ơi oe - Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tổn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội: Xã hội học trước Mác không thể giải quyết một cách khoa học vấn đề nguồn gốc và thực chất của đạo đức. Nó xuất phát từ "mệnh lệnh của Thượng đế”, "ý niệm tuyệt đối, lý tính trừu tượng", bản tính bất biến của loài người,. chứ không xuất phát từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, từ quan niệm xã hội hiện thực để suy ra toàn bộ lãnh vực tư tưởng trong đó có tư tưởng đạo đức.
TS - Theo Mác và Ăngghen, trước khi sáng lập các thứ lý luận và nguyên tắc bao gồm cả triết học và luân lý học, con người đã hoạt động, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật chất cân thiết cho đời sống. Ý thức xã hội của con người là sự phản ánh tồn tại xã hội của con người. Các hình: thái ý thức xã hội khác nhau tuỳ theo phương thức phản ánh tổn tại xã hội và tác động riêng biệt đối với đời sống xã hội. Đạo đức cũng vậy, nó là hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người.
Và cũng như các quan điểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo, đều mang tính chất của kiến trúc thượng tầng. Chế độ kinh tế - xã hội là nguồn gốc của quan điểm về đạo đức con người. Các quan điểm này thay đổi theo cơ sở đã để ra nó. Ví dụ: thích ứng với chế độ phong kiến, dựa trên cơ sở bóc lột những người nông nô bị cột chặt vào ruộng đất là đạo đức xã hội nông nô.
Thích ứng với chế độ tư bản dựa trên cơ sở bóc lột người công nhân làm thuê là đạo đức tư sản. Chế độ xã hội chủ nghĩa tạo ra một nên đạo đức biểu hiện mối quan hệ hợp tác trên tình đồng chí và quan hệ tương trợ lẫn nhau của những người lao động đã được giải phóng khỏi ách bóc lột. Như vậy, sự phát sinh và phát triển của đạo đức, xét đến cùng là một quá trình do sự phát triển của phương thức sản xuất: quyết định: - Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người. Loài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người: phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức.
Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi con người theo khuôn phép chuẩn mực và qui tắc đạo đức biểu. hiện thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa. Bất kỳ trong thời đại lịch sử nào, đạo đức con người cũng đều được đánh giá như vậy. Các khái niệm về thiện, ác, khuôn phép và qui tắc hành vi của con người thay đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác.
Và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ đạo đức cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định. Những khuôn phép (chuẩn mực) và qui tắc đạo đức là yêu cầu của cả xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân. Nó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (tổ quốc, nhà nước, giai cấp mình 10 và giai cấp đối địch.) và đối với người khác. Những chuẩn mực và qui tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay của một giai cấp, dân tộc thừa nhận.
Ở đây, quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ của mình đối với xã hội và đối với người khác (khuôn phép hành vi) là tiền để của hành vi đạo đức cá nhân. Đã là một thành viên của xã hội, con người phải chịu một sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự đánh giá đối với hành vi của mình và trong những hoàn cảnh nào đó còn chịu sự khiến trách của lương tâm. Cá nhân phải có trách nhiệm chuyển những đòi hỏi của xã hội và những thể hiện của chúng thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình. Biểu hiện của sự chuyển hóa này là hành vi cá nhân tuân thủ” những' ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực cho phù hợp với những đòi hỏi của xã hội.
Do vậy sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện, và xét về bản chất, đạo đức là sự tự do lựa chọn của con người. - Đạo đức là một hệ thống các giá trị. Giá trị là đối tượng của giá trị học (giá trị học phân loại các hiện tượng giá trị theo quan niệm đã được xây dựng nên một cách truyền thống về các lĩnh vực của đời sống xã hội, các giá trị vật chất và tinh thần, các giá trị sản xuất, tiêu dùng, các giá trị xã hội - chính trị, nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ, 11 tôn giáo)!. Đạo đức là một hiện tượng xã hội, mang tính chuẩn mực: mệnh lệnh, đánh giá rõ rệt.
- _ Các hiện tượng đạo đức thường biểu hiện đưới hình thức khẳng định, hoặc là phủ định một lợi ích chính đáng, hoặc không chính đáng nào đó. Nghĩa là nó bày tổ sự tán thành hay phản đối trước thái độ hoặc hành vi ứng xử của các cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng trong một xã hội nhất định.